





![]() | Today | 4 |
![]() | Yesterday | 13 |
![]() | This week | 52 |
![]() | Last week | 110 |
![]() | This month | 152 |
![]() | Last month | 1063 |
![]() | All | 1216 |
Your IP: 38.107.191.104
,
Now is: 2010-03-10 09:09
THƠ HÀ NGUYÊN DU (Anh Biết, Em Yêu Dấu) Nguyễn Vy-Khanh ** Từ khi nhân tố HO thêm vào cho cộng đồng người Việt hải ngoại, thi ca Việt Nam vốn ngày càng dày dặc rậm rạp củi rừng bỗng trổi lên những tiếng thơ con chữ của hy vọng. Hà Nguyên Du nằm trong số đó, với hai tập thơ, Lối Khác và tập hôm nay đây. Người đi tìm thi tính, bước trên những lối lạ lẫm của Hà Nguyên Du sẽ không thất vọng. Những vần thơ cho cảm tưởng tay thợ sành rốt cùng có chất nghệ thuật, đầy ẩn dụ và tiềm tàng hứa hẹn. Dọc suốt tập thơ, một chất nghệ khi âm ỉ khi hiển nhiên, người thơ tỏ một tâm hồn nhạy cảm nhưng cũng cương quyết theo tình huống của phút giây, của hoàn cảnh ngoại vi chung đòi hỏi. Đây là một người thơ sống, thở để sáng tác, sống vì thi ca, sống mạnh với những tinh tế của nghệ thuật, với ý chí nỗ lực mở những con đường mới! Hà Nguyên Du có vẻ làm khó người thưởng thức thơ với chữ dùng hiếm, bất ngờ, những cung nhạc đứt đoạn, những tình ý bỏ ngang,... nhưng cũng chính đó là nét đặc biệt của Hà Nguyên Du. Anh như cút bắt với thơ, thơ xuôi mà không xuôi, thơ mà như nói thường, phẫn nộ, đối thoại, giao tiếp... Những vần thơ nhịp nhàng hay trắc trở , tỏ tình hay oán trách. Ở hình thức, xuống hàng, vần bằng trắc, thanh bình thượng, cách ngắt câu, chơi chữ như tự điển xếp nhầm bộ, thanh. Ở dùng dấu chấm than (Thơ Xuân Nhiều Dấu Chấm Than!!), ở hình thức xếp chữ lên trang - toàn bài Bố Cục Mới hiện thành chữ B, bài Hữu Dũng có dáng chữ S, Bào Thai Cảm Xúc dáng chữ C mà như E viết hoa hay chỉ là mũi tên bào thai gây xúc cảm? Bài Hào Quang chữ hẹp dần sau khi đã rộng mở - có thể cốt bày tỏ cho người đời những tâm tình phản kháng, nhức nhối, tư duy, chán chường... của một hồn thơ từng đã phải sống trong những hoàn cảnh không lựa chọn, xác hồn bị đọa đày, nhưng tâm hồn luôn thao thức, luôn hướng về đẹp, thật,... Những vần thơ có cái vỏ cay đắng, bạo động,... nhưng bọc cái ngọt ngào của mía hấp chín tới của tình người ! Thơ Hà Nguyên Du làm người đọc văn chương choáng ngợp vì nặng nề những tương phản của tình ý và của đời sống hiện thực. Thơ ở đây là tận cùng cảm xúc, cái còn lại sau những đam mê, sống thật. "tôi sinh tôi / sinh nhiều thơ / lắm con chữ rặn / như phờ phạc ra / một bào mang nặng / trên ta / một khối u uất,..." (Tôi Sinh Tôi). Hà Nguyên Du định nghĩa thơ "như hơi thở / một sinh lý cập nhật" sau khi "không còn gì để cho / khánh tiệt" vẫn hãy "còn thơ còn thơ"(Không Còn Gì). Thơ như một cứu rỗi thiết thực : "... và riêng em riêng em dụ ngôn ta thấm mật bông quỳ lúc đời là mùa đông ngã âm mùa đông đóa hồng hết rộ le the cúc héo vô thường chút ráng em pha vòm cây cuối ngõ núi đứng u tình sợ bóng đi qua thơ cứu rỗi trên từng nhịp đập như thiền sư tiếp ngộ phút giây" (Dụ Ngôn Mùa Đông) vì thơ có thể soi tối ám: "... thơ huyết tự bật đèn soi bóng tối phàm tha nhân chính hệ xác thân này!" (Thuần Điệu). "Biển đời dâng cuồng nộ" thành phải "để con chữ / ru hời cơn thống khổ / thương con thơ mong thoát chỗ lưu đày" (Thương Con). Thi ca trở thành ánh sáng hay hy vọng cuối: "xoáy trôn ốc / đi vào vũ trụ /quây hướng tâm / thâu đủ chuyện đời / ta là ta / của trăng vơi / của con nước cạn / của mồi hư vô / em là em / của ta thơ / của miên viễn / của bến bờ chân, như" (Chân, Như). Cũng có khi người thơ hổ thẹn, muốn Đóng Đinh Chữ, có khi khứu giác không làm đủ bổn phận "khiến chữ thông tim / thơ phù sa đất cằn / chả đếm xỉa đến mùi lai riêng hoa" (Viết Ở Ficomp, Santa Ana). Người thơ có cái tâm sâu, nhạy cảm, với những sinh vật rất thường: "anh biết, em yêu dấu khi dòng sông trôi sông cuộn mình cuốn đi muôn chất thải nước giảm xanh rong rêu ám màu lây vạ sóng nẩy tâm sinh sát bọt bèo..." (Anh Biết, Em Yêu Dấu 1) Thơ Hà Nguyên Du có nội dung, chuyên tải tâm tình, tâm sự hay thông điệp, kinh nghiệm để lại. Những vần nhẹ, thơ mộng âm hưởng: "... chồng thư cũ với lời em ước hẹn ôi giờ đây ! con nước xoáy quay cuồng ta thương quá, nhớ hôm làm quen nọ lúc hôn nhau, em sẽ nói xa trường..." (Chồng Thư Cũ) "... rừng xác xơ thu, lá dấu lối mòn tình yêu ngày cũ rừng lá di quân, ngày nao có kẻ... ngọc ngà tình nồng lộng chí phiêu bồng, ta vẫn yêu em một lòng, một lòng..." (...Còn Đậu Nhánh Tình) "... hè đang đến, em nói gì với nắng? tiếc thương không lá rụng trống cành khô? con ve cũ còn ngân muồi nhã nhạc em nhớ gì đóa phượng ép trong thơ?..." (Hè Và Em) Làm thơ, sống thơ, là "mở toang hoác, từng ngăn ký ức / tình khai nguyên, hốt tỉnh, diện hình / em ẩn náu thần kinh, thớ thịt / dẫu lặng im mà chẳng lặng thinh..." (Ẩn, Hiện Một Đời), vì thinh làm sao được khi dấu vết quê hương đầy ký ức, thịt da, Tha La xóm đạo của Hà Nguyên Du là Mary, là "ngọc". "Mary em, ngày xưa khó quên đang cùm gông mà em ngoan hiền! em cho ta một trời nghị lực, một trời thơ mạch chảy vô biên ...Mary em, người em Tha La ngăn muôn trùng mà ta không xa mai ta về lại tìm em, ngọc, mai ta về thăm tìm em, hoa..." (Em, Tha La) Cái nền quá khứ khổ hận có thể để lại dấu vết: "keo tử sinh chỉ linh với Thượng đế phố mọc lên rừng mảnh mảnh đấu đá mắt mắt trợn ngược thấu tận bốn ngàn năm oan hồn xiết rên đâu đây thời chờ minh quân hỗn quân" (Hỗn Quân) Quá vãng là tối đen Rụi Đời "trại a / trại b / a 1, b 4 / còng 8 / còng U /chủ nghĩa, chủ mưu / rụi hết đời trẻ". "Tôi con chim gãy cánh lúc tan bầy tôi con ngựa què chân khi bão nổi..." (Em Và Lối Thoát) cho nên "một khi ta đi khập khểnh mà trên vai lại quằn! với những con đường chưa đến với bao nỗi sầu miên man với trăm ngàn căn bệnh... đến từ ngả oan khiên dẫu thế nào cũng là cuộc đuổi bắt..." (Dẫu Thế Nào) Vì đâu mà oan khiên? Phải chăng "bốn ngàn năm hiến / bốn ngàn năm chia / ung cả hạt bí / chết cả dây bầu / bực chiếc thùng rỗng / kêu rách nhỉ / tức tay hèn / đấm vỡ mấy hệ" (Vỡ Hệ). Nhà thơ cũng có lúc phẫn nộ dễ hiểu, vì "hơn nửa vòng trái đất xa xôi ta luôn thấy gần như gan tấc bởi nguồn cội vẫn nằm trong tim chật bởi tình yêu như máu thịt xương da... " (Vẫn Nhớ). Và nhớ nhiều. Vì dù ở chốn nữ thần tự do tình đời thế thái vẫn là thường, mà phường tuồng thì không tìm vẫn phải nhìn thấy: "... thúng úp voi đao phủ giảng đạo ... phường dở hóa trang lại sắm tuồng ấm ớ kịch bản mê đón gió tợ múa rối..." (Không Còn Gì). "Tha hương, ta khách trú bơ phờ" (Nguyệt Lữ), đành thôi Chải Tóc Đi Em, để còn lo cho mẹ và em ở quê nhà, ai nói tha hương là nói mẹ cha mà ký ức buổi nào Dưới Nắng Xế, Ba Ngồi Sàng Gạo thế mà "nay nắng xế ai ngồi sàng gạo? / chắc thay bóng Má ngồi mong con! / thằng con phóng lãng xa nghìn dặm / sống kiếp tha hương, nhớ mỏi mòn". Cùng cực bi quan, có khi muốn buông xuôi trần thế để lại Lời Trối ... Về Một Dự Đoán. Bởi sống có một mình ên là một kinh nghiệm nhiều khi chết người: "đoạn cầu, cầu đoạn chênh vênh / thất thơ thất thổ mình ên cõi này!" (Bước Thải). Buồn nhưng không tuyệt vọng, vì còn có những hoài vọng (Trần Tình Khúc), thao thức: "tiếng vỗ cạn bầu hay tiếng chuông?!" (TVCB). "đất hiếm lên trúc tìm mai đâu trong ngàn cây tạp xanh? truyền thông điệp sương mầm xanh thấm không qua giọt lời cổ thụ? thơ hành trình lãnh nhiệm phép mầu tiên dược..." (Hé Nụ). Thì ra thế; và đó là chủ quan của nhà thơ! Có thể nói nét riêng của thơ Hà Nguyên Du nếu phải so sánh, là ở nhiều hình ảnh lạ, cố tình, nhiều và lạ, thân quen với nhà thơ nhưng có thể lạ với người đọc thơ. Anh như người nhiều tâm sự muốn chia xẻ, nhiều kinh qua muốn ghi lại, gửi gấm, nhiều tâm niệm muốn ghi lại kẻo mất. Em, tình yêu, là vòng nhật nguyệt, vừa luân hồi vừa thường hằng, trong cõi âm dương, như trong tâm cảm, "đóa hoa nầy trong cõi buồn sinh, diệt nhân gian nầy đâu thoát được tử sinh? em chính là em là vòng nhật nguyệt cho ta hơi thở, cho nhục cho vinh..." (Em Là Vòng Nhật Nguyệt) Hay khúc ly tao xưa nào đó mà Hà Nguyên Du vọng nghe thấy qua những vật của hiện thực trần trụi: "tình còn xanh lá còn kết hoa không? sao như ve ru trên cành ngô đồng sao như sông xưa ròng đi ngọn nước em mắt môi buồn khép kín chờ mong ... mình còn mơ ước còn ngóng trông nhau mây mưa tan hoang mây lại giăng sầu em như ăn năn khi tình lạc bước anh sống lưu đày hát khúc ly tao..." (Khúc Ly Tao). Hình ảnh đẹp buồn Tình Rơi Theo Ánh Tà Huy: ' mặt trời nghiêng, mặt trời xế bóng em nghe chăng kiếp người mau chóng?...". Thơ hôm nay với hình ảnh cũ khói thuốc bay: "... ta nhớ người vương khói thuốc bay nhớ héo cành xuân, nhớ trắng canh chầy tâm ta rung mãi theo triều sóng em hỡi! em nào đâu có hay?..." (Nhớ Người Vương Khói Thuốc Bay) Tiềm thức ca dao nơi những dòng thơ thời Rap: "qua sông nhớ những nhịp cầu qua truông còn thấm nỗi đau nghiệt đời qua đêm càng quí mặt trời, qua nhân gian thấy tình người nổi nênh, qua đâu mà chẳng qua em? qua muôn thách đố qua phiền lụy vây, qua ai qua chùm vạ lây, qua non nước khốn qua đày khắc lao, qua sông nhớ những nhịp cầu, qua thơ qua với tầm dâu ngặt nghèo..." (Ca Dao Tôi...) Rõ thơ là chốn giải tỏa cuồng độ và lượng số của cuộc sống. Trong tình yêu, tận cùng mọi ngõ ngách bản năng: "cứ hôn anh / hỡi đôi môi thần hỏa / chạy theo đôi tay thủy triều / cứ mặc tình mặc tình / tưởng như con hổ / xé gọn nai tơ / lúc đang đói / thân em như trái chín / tuyệt mộng / anh lữ khách đường trưa / hổn hển trống bụng / chắc hẳn không sợ phạm giới luật như thầy tu! / không nhịn trong cơn đói ngất! Cứ quấn anh đi / quấn như trăn / bằng những đường cong giết người / mùi trái cấm như xạ hương ngộp / lạc cả hồn phách / đã mở cửa sinh... / cũng chính là cửa tử!..." (Hành Tinh Điên, Mê) Thơ sáng tạo từ con chữ, ngôn ngữ, với một khả năng giao đối, với những tiềm ẩn, vô ngôn. Tại sao không đùa nghịch với con chữ ? "ký ức ký niệm trí nhớ trí tri lửa lòng lửa bỏng tử sinh tử qui?..." (Ký Ức) "... quấn ta vòng lắm nuộc trặc trẹo ơi chi là ... trệch đường xe lửa chạy trĩu trĩu cánh thê noa!" (Thê Noa) nghe tình sao trục trặc không trơn tru tí nào ! "dụng tâm trác những thỏi nhám ngón đảm ngón lược rực tia tình yêu trên vách tối ngục át tiếng trêu ngươi nở hoa trên nhánh cành nhân ngãi tích phật lũy chúa ngã không ngã" (Ngã không Ngã) Nghịch con chữ như từ đó có thể tìm ra tinh túy cuộc đời, tìm ra chất tinh tuyền của sinh, tình, ... Như niệm con số để tìm sinh thoát trong bài Niệm Bất Khả! Hay những con dấu toán học áp dụng vào cái tôi hay cuộc đời nhiều toan tính: "tôi không phải là tôi khi tôi tôi chưa tới tôi chỉ là tôi khi tôi tôi tới tôi và khi tôi tới tới tôi là tôi tôi phải xa rời tôi để nhập cùng với những cái tôi quanh tôi ... thành toi khi thiếu dấu ^ và hiểu rằng dấu ^ là như một chiếc cầu nối chữ không đơn thuần là một dấu mũ một..." (Phải Thế Không Em?). Cứ thế mà đi tiếp với những con dấu ' ^ + = , v.v. Đặc điểm đáng kể khác của thơ Hà Nguyên Du là lối hài hòa văn tự xưa cũ-hôm nay, từ ngữ-sinh ngữ, tiếng tự điển - tiếng lóng ngoài đường,... Đây phải chăng để diễn tả cái sống đây mà phần nào đã quá vãng, cái sống mòn, sống thừa, hay sống đây mà tưởng đã chết, còn đây mà đã đầy mầm suy thoái như mạ lúa sau cơn lũ dài hơn thông lệ, bởi những tàn độc phá phách của thời gian, thiên nhiên và con người ... Hà Nguyên Du làm chủ cách xử dụng từ, vang vọng văn ngôn nhiều khi lạ lẫm bên cạnh bạch thoại của những tiếng rao, nói, những tiếng gọi, chào, tỏ tình, ngây thơ có, xúc tích có, ... của thường ngày. "...chờ ai đêm hạ? nước mắt nhung huyền, lỡ trách tơ duyên, nằm trong nghiệt ngã, lời ru ve hạ, khóc..." (Đêm Hạ Huyền) "lại hớt hải với những không đâu em vẫn trành tròn như nhật nguyệt thực phàm cõi ấy là tròng..." (Lại Hớt Hải) "... em khuyết dần tôi viên ngọc quý phận đá đời rong ngày dã hoang..." (Khi Bước Tình Đi Qua). "...nguyệt tà, dương xế, mây buông ta, em hát mãi, khúc buồn thiên thu..." (Đã Rồi Một Cánh Chim Bay). Người không quen theo phong cách Hà Nguyên Du sẽ lẫn thành "nguyệt tà dương xế". Hay "thôi" cũng hơn một cách, một nghĩa: "...lối ra nào ta tránh đời mai một hoang đường thôi! thôi cách biệt nhân sinh..." (Em Là Vòng Nhật Nguyệt). Hoặc ba câu "nhớ mới đó / giờ xuân ly / nhớ tức tưởi ...", xuân ly chứ không phải phân ly, mà hình như muốn nói phân ly, chắc có vậy cái nhớ mới thành thơ chăng? Qua lối xuống hàng, chấm câu, kỷ niệm như rời rã theo con chữ : " tiếng ca học trò hướng lên mặt trời tiếng ca tình người tiếng yêu nào vơi bước đi học trò lá me đường thơ mắt xanh vào đời sáng chân trời mơ" (Trái Tim Học Trò). Câu dài như nỗi nhớ đọa đày: "em đã khóc một chiều em đã khóc, mưa ngoài kia như thẹn hạt sa mù gió ngoài kia như dừng bước phiêu du, kìa nước mắt em là trời bão tố..." (Nhan Sắc). Rõ là thơ tám chữ đặt cạnh nhau. Xa hơn là dài dòng kiểu Tân Hình Thức, như lời tỏ không dứt, hay muốn ngừng dứt đâu thì cứ dứt ngừng kiểu mệt nghỉ hay khỏi nghỉ theo nhạc Rap! Hãy "đọc" Hạ Nguyên, Gene Đại Dương, Anh Biết, Em Yêu Dấu 2, ... thơ như một lối thở dưỡng sinh ! Câu có thể 8 chữ nhưng vắt dòng bất kể; vần không ngừng ở các dấu ngừng hay xuống hàng mà vắt dòng, muốn ngừng thì ngừng trong tâm thức, giữa câu, giữa đàng! Nhà thơ còn dùng nhiều thể loại trong cùng một bài bản, thay đổi chăng theo tình tự? "...chờ ai đêm hạ? nước mắt nhung huyền, lỡ trách tơ duyên, nằm trong nghiệt ngã, lời ru ve hạ, khóc ánh trăng nguyền, thức trắng đêm đen, tàn phai bướm hoa hạ huyền ơi hỡi! nắng thêu ngàn cây héo khô cành ta em lá rơi đầy..." (Đêm Hạ Huyền) Hà Nguyên Du thử nghiệm nhiều thể loại thi ca, làm mới, khác thơ mới, tự do hóa thơ đã tự do; và ở mỗi thể loại nhà thơ lại thử nghiệm cung cách mới, vận dụng khác con chữ, thế chữ thường dùng ,... Nhạc tính luôn hiện diện, lúc như ca dao, vọng cổ, lúc lại đầy điệu lòng thời đại... Thơ Hà Nguyên Du phải đọc lên mới thấy cái hay, cái thú, cái thơ, tiềm ẩn của âm lời, chữ nghĩa! Những bài như Cho Tôi Bài Tango, Cho Em Bài Sonnet,.. Đêm Hạ Huyền,... phải ngân vang mới cảm được những tiềm ẩn của một nỗi lòng, của những gạch chữ, nốt chấm... Như Hà Nguyên Du từng tâm sự ở đầu tập thơ, sau ba mươi năm ít nhiều vui với thơ, nay anh trở lại tận tình. Và tận tình làm mới, khác. Như một tổng hợp. Với một hình thức hội nhập với xã hội châu Mỹ của điện toán. Từ khi có con người, vẫn có những người luôn tìm kiếm ý nghĩa của ngôn từ, khoác cho chúng nét riêng mỗi thời. Khuynh hướng, trường phái từ đó nảy sinh! Trường phái, tìm kiếm nào rồi cũng chỉ là phương tiện của thi ca, tệ cũng là bài bản gia chánh, thêm thắt vị mới cho món thường dùng. Nhưng nét thơ và nét riêng của một nhà thơ không thể chỉ là gia chánh, mà phải vượt lên chạm đến thi tính, nguồn thơ! Ở lắng đọng, nằm ở chiều sâu, ở con chữ tình cờ gợi đến, ở ẩn dụ khéo tay! Trong tập thơ thứ hai này của Hà Nguyên Du, phần thử nghiệm theo thi ca thời hậu hiện đại, thời Tân Hình Thức, hypertext,... hãy còn sớm để đánh giá, nhưng người đọc khó tính không quen vẫn có thể cảm được qua một số hình ảnh, vần điệu và nội dung thơ. Ở những bài thật "mới" có thể "chấp nhận" (!), Hà Nguyên Du đã để lại cái gì khác hơn là một thể loại chủ trì hình thức. Hai hay ba phần còn lại Hà Nguyên Du đã không làm thất vọng người sính thơ với những đặc sắc của riêng anh. Nghịch thường thay, ở những trúc trắc chữ dùng, bất ngờ hình ảnh hay nhịp trật, không đợi chờ, ... lại là những nét riêng thành công, như một loại "nhạc tính", "âm điệu" rất thơ! Đây đó có những lời nhẹ như ca dao, đam mê như tình đầu,... nhưng thơ Hà Nguyên Du không phải là lối mòn đã quen, mà chính là những con đường xa lộ đã mở, cứ mãi xuôi chảy, không ngừng, dù phải trục trặc tâm hồn, bối rối của đời hội nhập ! Thi ca đối đầu với ngôn từ và thực tại! NGUYỄN VY-KHANH 7-11-2000 ( Nhà biên khảo, nhà phê bình văn hoc.) (Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)
“ ANH BIẾT, EM YÊU DẤU ” CỦA HÀ NGUYÊN DU HAY LÀ NGÀY NHƯ THẾ TẬN VÌ KHÔNG CÓ EM Lê Mộng Nguyên ** Trong bài ‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ‘’ ( được chọn làm nhan đề thi tập thứ hai của Hà Nguyên Du ), có mấy câu cuối cùng vừa đẹp vừa ý nghĩa, đáp đúng tâm tình nhà thơ trong cuộc hành trình qua tình yêu đến tận cùng ( như thi nhân đã viết trong lời Tựa : ‘’ Thơ cứ như người tình luôn vuốt ve, an ủi trong những toan tính đầy mạo hiểm, khi thơ tuôn ra như những dòng huyết tự. Thơ làm thật nhiều qua biết bao chặng đường, kể cả những bài thơ làm lén trong những lúc bị gông cùm không có viết, phải dùng những vật bén nhọn hay sỏi cuội mà viết nên chữ ; nhưng tất cả thơ ấy đều theo dòng thác kinh hoàng mà mất hết. Nhưng rồi thơ cũng tiếp tục sinh sôi bởi sức mạnh của tình yêu, bởi sức mạnh của lý tưởng ’’ ) : ... Một ngày hồn không phiêu bồng Một ngày hồn ngẩn ngơ Một ngày ong không lấy mật Ong quyên sinh Một ngày bướm không có hoa Bướm tự vẫn Một ngày em không yêu anh Một ngày như thế tận Trong cuộc hành trình khám phá tìm hiểu tư tưởng sâu đậm của tác giả, tôi xin trích dịch đoạn này ra chữ Pháp để cống hiến độc giả thân mến của Nghệ Thuật và làng văn nghệ sĩ đã từng yêu chuộng thi phẩm đầu tay của Hà Nguyên Du : Si un seul jour l’âme ne flottait pas à la dérive, elle se trouverait engourdie Si un seul jour l’abeille ne produisait pas la cire et le miel, elle se tuerait Si un seul jour le papillon ne trouvait pas de fleurs à sucer, il se détruirait Si un seul jour tu ne répondais pas à mon amour, Ce serait la fin du monde et de mes jours. Nếu « Lối Khác « là óc não và xương thịt của một thi nhân « x. Nghệ Thuât số 66, th 09 – 1999 ), ‘’Anh Biết, Em Yêu Dấu ‘’ là một tán dương ca hùng vĩ của tình yêu bất diệt qua một triết lý rất đặc biệt về linh hồn và xác thể : Tôi đã luân hồi tôi, qua em Tôi đã luân hồi thơ, qua tim Tôi sinh từ đất tanh hơi máu Tôi chết từ đâu những nổi chìm ? Bằng Pháp ngữ, tôi cảm giác như sau : Par métempsycose je revis une autre vie, dans ton corp Par métempsycose je revis ma poésie, dans mon coeur De la terre nauséabonde et dans l’odeur de sang je nais et meurs D’ou ma mort vient- elle sinon des vicissitudes du bonheur ? Cùng theo một ý niệm về cuộc đời thi nhân, HND đã kiếm tìm cho ta thưởng thức bài thơ ngắn của F.W Bourdillon bằng tiếng Anh ( The night has a thousand eyes ), có bốn câu chót rất diễm lệ : The mind has a thousand eyes, And the heart but one Yet the light of the whole life dies When love is done. Đã do Thi sĩ Viên Linh dịch ra bằng tiếng Việt (ngắn và sâu sắc) : Trí tuệ có nghìn con mắt Trái tim chỉ có một, Nhưng ánh sáng của cả cuộc đời sẽ tắt Khi tình yêu đã hết Nhưng tin tưởng trong luân hồi Phật giáo và đặt tất cả niềm hy vọng vào tình yêu vĩnh cữu (mặc dù có đôi lúc chán nản), đối với nhà thơ họ Hà : ‘’... cuộc đời có lẽ không bao giờ tắt, dù tình yêu hoa mộng đã chết, để lại vết thương tang tóc cho tâm hồn ... Rồi tình yêu khác sẽ tái sinh, sẽ đâm chồi nẩy lộc và trở về tiếp tục ngự trị trong trái tim thơ, trong trái tim chứa đầy nhân ái. Một trái tim luôn nóng hổi như ánh thái dương trên quê người luôn chói chang. Một trái tim không bao giờ vơi tình yêu tha nhân và đồng loại, không bao giờ mờ phai hình ảnh quê nhà! Nhất là không bao giờ ngưng nhịp đập thơ! ’’ (Tựa HND). Sở dĩ tôi trích đoạn dài này từ bài Tựa HND vì qua nó, tác giả ‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’ muốn phát ra một bản tuyên ngôn cho đời... ‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’, là một cuộc hành trình đi ngược dòng thời gian trong quá khứ của một mối tình đã qua, tương tự Marcel Proust đã đi tìm thời gian đã mất ... (‘’À la recherche du temps perdu ’’ 1913- 1922 ). Chẳng hạn khi người thi sĩ hồi tưởng xa xưa, qua những kỷ niệm còn ấp ủ trên giấy hoen mờ : Chồng thư cũ úa vàng bao lớp bụi Ta vàng theo năm tháng trái oan đời Em bên ấy có quen hờn quen tủi ? Có đương nhiên quên quá khứ xa xôi ? Ngày hai đứa ghé đầu chung nón nhỏ Vai kề vai tim thánh thót reo mừng Em tha thiết mãi thêu thùa, mơ mộng Nói bên nhau cho hết kiếp chia, phân... ( Chồng Thư Cũ ) Bài này được Nhạc sĩ Lê Dinh có biệt tài phổ nhạc (x. Nghệ Thuật số 72, th 03-2000) với cung ré majeur làm nổi bật một quá khứ êm đẹp, nhẹ nhàng trước khi hai đứa trẻ xa nhau. Nhưng có những chia phôi còn để lại thương tiếc vô cùng, mấy vần thơ sau là một tiếng khóc cho một cuộc tình dang dở : Thoáng chốc đời phai, mãi buồn canh cánh Yêu lắm rồi xa, thương tiếc khôn cùng Mai ta về đâu, nắng táp mưa giông Mai đôi mắt dần khô chăng, suối lệ? (Ngày Mai Và Đôi Mắt) Trong ‘’ Đã Rồi Một Cánh Chim Bay ’’ , với âm điệu tuyệt vời, đẹp như ánh sáng ban mai, buồn như dòng suối năm xưa, Hà Nguyên Du đã đạt được một địa vị dưới ánh mặt trời sáng rực. Cứ mỗi danh từ là một nghĩa, cứ mỗi điệu vần là một nhịp trong tim, một nhịp của tạo hóa thiên nhiên : Đã rồi một cánh chim bay Em đi về với, cuồng quay ánh đèn Lạc loài ta giống tên điên Bơ vơ ca hát, ngang nhiên cợt đùa Đâu rồi suối cũ, trăng xưa ? Ta thêm chức tước, đâu vừa thiên hương Nguyệt tà, dương xế, mây buông Ta, em hát mãi, khúc buồn thiên thu... Kỷ niệm ! Kỷ niệm ! ngày ‘’ Thứ Ba’’ trong ‘’ Tuần Lưu Hoạt ’’ đáng lẽ theo phần đông là một ngày thích thú nhất...đối với nhà thơ họ Hà trái lại, là ngày đau khổ nhất : Con chim nào hót sáng nay ? Miệng ta bỗng huýt sáo dài như chim! Cơn mơ nào ủ ngăn tim? Nỗi xưa niềm cũ luân phiên dày vò! Đã rồi hóa giải nên thơ ? Cho ta sống thản bên bờ vực đen? Tôi xin dịch ra chữ Pháp như sau (để lột trần hơn nữa tâm hồn của tác giả) : De quelle espèce d’oiseau ce chant vient- il ce matin ? Je me mets soudain à siffler comme l’animai, longuement ! Quel genre de rêve a-t-il pu à la fois réchauffer et freiner le rythme de mon coeur Des sentiments et ressentiment du passé ont à tour de rôle embrouille ùma vie Je les ai pourtant tous transformés en poésie Afin que puisse vivre tranquille Au bord du noir profond de l’abime ? Đáng sợ hơn là những : ... Đêm thổ huyết từ cơn mơ cũ / Gương vỡ soi, người đội lốt người / Nỗi thê thiết tim nào chịu đựng / Nẻo về không biết có suông, tôi? (Ẩn, Hiện Một Đời). Hoặc trái lại, trong ‘’ Những Đêm Hạ Huyền ’’, nhà thơ cũng tiếc nuối, nhưng nhờ thơ, người đã biến hóa nhẹ nhàng : Hạ huyền ơi hỡi! Nắng thêu ngàn cây / Héo khô cành ta / Em lá rơi đầy / Hạ huyền phiêu lãng / Tóc ai dần phai / Tính tang tình tang / Non nước u hoài / Vọng về đâu nữa? Đám sâu cành khô/ Ái ân ngày xưa / Hóa ra thành thơ. Còn nói gì lúc ‘’ Trái Tim Học Trò ‘’ của nhà thơ ( đầy mơ mộng) mỗi ngày đến trường nữ học, nhìn trộm nàng ra trường, trên đường về nhà cha mẹ : Áo em ngày xưa / Áo trắng thiên nga / Bước anh ngày xưa / Bước đi hào hoa / Tóc em ngày xưa / Tóc chấm ngang vai / Tóc anh ngày xưa / Tóc phong trần bay . Còn biết bao nhiêu vần thơ tuyệt diệu của Hà Nguyên Du về mối tình trong kỷ niệm, vừa đau thương vừa bình dị, dịu dàng như ‘’ Tình Như Cành Lá Thu Phong ’’: Tình như cành lá thu phong Thôi tàn phai hết mặn nồng ái ân Anh còn nặng gánh phù vân Mắt em rơi ướt, xót thân lạc loài Hay ‘’ Tình Ta Dưới Ánh Mặt Trời ’’ : Ôi! bàn tay trên cung phím lướt Tơ ngân vang rung trái tim buồn Nghe không em, lòng ai chùng xuống Như trần gian thiếu bóng tình thương! Như đời hoa vời trông cánh bướm Như ai ca phách nhịp không cùng Xe đi không về không với bến Ta yêu em cho núi thành sông... ‘’Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’ cũng là một tán dương ca tình yêu quê hương (Chiều hôm nao đi ngang dòng kinh / Nhớ quê hương tha thiết chân tình / Nhớ ruộng đồng khô ran, thiếu nước / Dẫn thủy nhập điền hư hao nát tanh :Tức Cảnh Sinh Tình), nhớ gia đình quốc nội ( Ta ở bên này xứ sở văn minh / Thương chị giếng sâu, gàu con xách nước / Mẹ lả thân cò, tảo tần xuôi ngược / Ôi! lất lây cho đấp đổi qua ngày : Chải Tóc Đi Em! ), người cha đã mất năm 1986 ( Đột ngột ai ngờ Ba lâm bệnh / Và Ba đi...đi mãi không về / Trời ơi! hiên vắng ai ngồi khóc ? Bão táp mưa sa phận não nề: Dưới Nắng Xế Ba Ngồi Sàng Gạo), và người mẹ yêu dấu còn sống sót quê nhà : ... Vẫn nhớ lệ mờ nơi bến cảng, sân ga Mẹ khóc mướt ôm con và xiết chặt Em, chị tiễn đưa lòng đau như cắt Người lẻ loi mãi khăn gói lên đường!! Vẫn nhớ vô vàn kỷ niệm yêu thương Qua hưng phế chẳng mờ trong ký ức (Vẫn Nhớ). Thơ Hà Nguyên Du còn rất thấm nhuần triết lý Á Đông. Đã biết đại khái nỗi tâm tình của người qua ‘’ Tôi Đã Luân Hồi Tôi, Qua Em ’’, bây giờ ta hãy lắng nghe ‘’Ta’’: Đến sẽ đến, đi sẽ đi Ở, về một kiếp lưu ly đất trời Trái, hạt từ đâu sinh sôi? Ta, em, hương, lửa, lũng, đồi bụi bay Lối nào có một không hai? U, minh nở đóa phù phai bất thường Mộng trần em trĩu vai thuôn Ta, lưng quặn hải hồ, sương khói nhà. Hoặc đầy tư tưởng Phật giáo trong ‘’ Nâng Cốc Sầu Tan’’: Đời kiêu bạt phế tàn lây! Nghe tâm huyết lụn phơi bày nghiệt oan ? Sĩ hề sĩ chẳng hề than ! Sĩ về nâng cốc sầu tan chẳng hề! Về đời Hà Nguyên Du, tôi đã nói nhiều trong bài ‘’ Lối Khác của Hà Nguyên Du hay là óc não và xương thịt của một thi nhân ’’ (NTsố 66) . Thơ của họ Hà có đăng trên các báo nổi tiếng ở hải ngoại và Nghệ Thuật (do Nhạc sĩ Lê Dinh chủ trương) đã trình bày những thi bản hay nhất trong những số vừa qua. Tôi là người hân hạnh được đọc lai cảo ‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’ tác giả gởi tặng ( 72 bài tất cả!) với sáng kiến tự do của nhà phê bình lấy trách nhiệm viết bài này cho Nghệ Thuật đặc quyền sở hữu đăng ngay trước khi tác phẩm được ra mắt đồng bào : An Tiêm Studio xuất bản, bìa Khánh Trường, phụ bản họa sĩ Lê Thánh Thư, Hạ Quốc Huy...với sự cộng tác về phần phổ nhạc của các Nhạc sĩ : Phạm Duy (Em là vòng nhật nguyệt, Khúc ly tao, Đêm hạ huyền) Trần Duy Đức ( Nhớ người vương khói thuốc bay, Em có về như những cơn mưa, Người yêu dấu ) , Nguyễn Hiền (Cho tôi bài tango, Cho em bài sonnet), Trầm Tử Thiêng : Khi bước tình đi qua (TTT vừa bỏ chúng ta ra đi ngày 25/01/2000 và HND đã viết trong Tựa : ‘’...tôi không nén được lòng, lúc ‘’ cánh cửa đã đóng’’ sau khi đưa thi hài của cố Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng vào lò hỏa thêu. Với tiếng khóc nức nở của nhà báo Lâm Tường Dũ, của nữ ca sĩ Ngọc Minh, và...những dòng lệ tiếc thương của Nhạc sĩ Trúc Hồ, cùng một số văn nghệ sĩ khác...’’), Nguyễn Đức Đạt (Tình ta dưới ánh mặt trời), Phạm Minh Hùng (Tình như cành lá thu phong), và Nhạc sĩ Lê Dinh (Chồng thư cũ). Hà Nguyên Du là một nhà thơ đã được nhiều nhạc sĩ lừng danh phổ nhạc; đó cũng là một chứng minh sự thành công vẻ vang của một thi sĩ đang lên, và có lẽ – trong tương lai người sẽ đạt được ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ Việt Nam ( Cho Em Bài Sonnet) : Ta cho em bài sonnet chan chứa Con sông dài uốn khúc quanh co Sonnet mùa đồng lên xanh lúa Sonnet mình đẹp như trang thơ Ta cho em bài sonnet tha thiết Như trăng rằm hát khúc ca dao Sonnet đầy tình trao da diết Sonnet trời ngời ánh trăng sao... LÊ MỘNG NGUYÊN Nhạc sĩ/ Tiến sĩ/ Gs Sorbonne/ Viện Hàn Lâm KH/ Hội nhà văn Pháp ngữ , ( Paris) (Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)
BÀI VIẾT Hoàng Ngọc-Tuấn ** Nhiều người vẫn cho rằng bằng chứng thành công của một nhà thơ là một tiếng thơ đã định hình. Ngược lại, tôi cho rằng một tiếng thơ đã định hình là một tiếng thơ đã bắt đầu kiệt sức; và thái độ kéo dài một tiếng thơ như thế là thái độ của một người thợ quen tay nghề, chứ không phải của một nghệ sĩ sáng tạo. Hành động sáng tạo đích thực phải là hành động liên tục tìm tòi và phủ định, bất chấp sự thất bại. Nỗ lực sáng tạo đích thực không chấp nhận việc dừng lại ở một phong cách và ăn bám vào phong cách ấy suốt cả một đời. "The artist is always beginning... Any work of art which is not a beginning, an invention, a discovery, is of little worth", Ezra Pound đã nói rất chí lý như thế. Suốt mấy mươi năm qua, thơ của Hà Nguyên Du cho thấy một thái độ tìm kiếm, thí nghiệm và thay đổi không ngừng về phong cách. Đó là dấu hiệu của một nỗ lực sáng tạo đáng trân trọng. (HOÀNG NGỌC-TUẤN, nhà lý luận văn học) (Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)
BÀI VIẾT Du Tử Lê ** Cách đây hơn ba năm, trong bài tựa cho thi phẩm đầu tay của Hà Nguyên Du, tôi có nói, thơ Hà Nguyên Du đã lột xác, đã hóa thân. Từ những ao, vụng rung cảm cũ, cách diễn đạt cũ, Hà Nguyên Du đã có được cho sinh phần thơ mình, một thổ ngơi, một khí hậu, khác. Anh quăng, ném mình một cách dữ dội, vào những cái mới. Trái tim thi ca Hà Nguyên Du, do đó, đập được nhịp đập hiện đại. Hôm nay, kiểm chứng lại, tôi thấy, dường tôi đã không quá lời, khi viết về tiếng thơ này.” DU TỬ LÊ (Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)
NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ HÀ NGUYÊN DU Nguyễn Mạnh Trinh ** NGUYỄN MẠNH TRINH: 1/ Anh vừa xuất bản một tập thơ mới. Vậy xin anh cho biết một vài chi tiết về tác phẩm này? HÀ NGUYÊN DU: Trước khi mang tập thơ đi in, tôi cần đưa vào thêm ba bài thơ phổ nhạc được kẻ, nhưng kết quả giờ chót chỉ được một. Tuy nhiên tôi vẫn hài lòng về sự phổ và kẻ nhạc rất đẹp của nhạc sĩ Trần - Duy Đức, về phần vẽ bìa của Họa sĩ Khánh Trường, về phần trình bày của Đoàn Duy Hiệp... Nhất là tôi đắc ý hơn với bài viết tựa của thi sĩ Du Tử Lê về trình tự chính xác như diễn tiến cuộc đời làm thơ của tôi. NMT: 2/ Hình như, anh đã có ý định từ rất lâu là in một tập thơ. Vậy tại sao bây giờ anh mới hoàn tất được? HND: Vì những bất ổn đời sống đến dồn dập, làm tập thơ của tôi mất gần ba năm mới xong, nhưng với tâm quyết là phải in ra những gì tôi viết, nếu không, sẽ bị mất hết như hơn ba mươi năm qua. NMT: 3/ Tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã có một phần phụ lục với những bài thơ của anh. Như vậy, tập thơ này và phần phụ lục ấy có liên quan gì với nhau? HND: Tập thơ "Lối khác" và phần phụ lục ấy chỉ là một, vì đó là những bài thơ được trích ra, nhưng nó không có nghĩa là để tượng trưng cho một tác giả... NMT: 4/ Hồi trước, anh là ký giả và làm thơ viết văn. Bây giờ, công việc cầm bút là công việc tay trái, còn tay phải thì bận bịu vì sinh kế. Điều ấy, có phải là một điều hạn chế sự sáng tác của anh? Hay, ngược lại, nó làm anh hăng hái hơn khi sáng tác? HND: Cảm ơn anh đặt những câu hỏi rất hay và lý thú như trên. Ai cũng cho rằng đất Mỹ là đất của cơ hội, đất của qũy đạo quay tít đến chóng mặt. Vì thế, người di dân với người bản xứ đều bị chi phối. Sinh kế đã làm hầu hết chúng ta rất bận bịu, nhất là tôi, thường lúc như không thấy mặt trời. Lại còn phải chăm lo hai đứa con còn quá nhỏ, nên hạn chế rất nhiều trong việc sáng tác. Nhưng, chính vì thế, tôi lại càng "hăng hái" hơn, vì thơ với tôi như một hiện hữu như bóng với hình, như nhịp đập của trái tim NMT: 5/ Anh nghĩ thế nào về thơ "mới". Có phải "mới lạ" là một yếu tố thiết yếu cho một bài thơ "hay"?. HND: Người ta đã nói quá nhiều về đề tài này rồi, tuy nhiên theo tôi nghĩ, nếu gọi thơ "mới" dĩ nhiên còn có thơ "cũ". Mà, dù mới hay cũ, miễn sao cho ra "Thơ". Nhưng, chúng ta thấy rằng thơ mới, có triển vọng sẽ thích ứng với những thế hệ chuyển tiếp và với con người trên đà tiến bộ chung trong mọi lãnh vực của nhân loại. Từ đó, "khẩu vị" văn chương nếu có món "mới" thì tốt, nhưng mới mà " ngon " thì đáng ca ngợi hơn... Về sự "mới lạ" có phải là một yếu tố cho một bài thơ "hay"? Những câu hỏi này nếu trả lời không khéo sẽ gây ngộ nhận, nhưng theo tôi, "mới, lạ, và hay" đúng là các yếu tố thiết yếu cho một bài thơ "hay". Nhưng khi nói đến một bài thơ "hay" không chỉ có mới, lạ, mà bao gồm cả một bài thơ hay của thơ "cũ" với những yếu tố "hay" khác, thơ "cũ" vẫn tiếp tục tồn tại... NMT: 6/ Nhưng, anh có nghĩ cần phải phân biệt giữa "mới lạ" thật và "giả" ( như làm dáng, tạo cầu kỳ đến kỳ quặc là "mới lạ" giả chẳng hạn ) HND: Nghệ thuật nào cũng đòi hỏi phải xuất phát từ nguồn gốc căn bản của chủ thể, đó là cái "tâm" hay từ trái tim cảm xúc của người sáng tạo ra tác phẩm, dù với mọi nổ lực khám phá hay tìm kiếm nào, cũng không thể rời xa tính tất yếu đó. Nó giống như những chiếc chìa khóa để mở kho tàng mỹ thuật của các nghệ nhân; đi ngược lại với những đặc tính then chốt như nêu trên, sự phân biệt "mới lạ" giả, tự nhiên trở thành một vấn đề cần có... NMT: 7/ Chắc anh làm nhiều bài thơ hơn là "Lối khác". Anh lựa chọn thế nào để thành tuyển tập thơ của mình? HND: Tôi làm rất nhiều thơ, in xong tập Lối khác, sang năm mới này, việc kế tiếp là lo in tập thơ "Anh Biết, Em Yêu Dấu" như tôi đã giới thiệu từ trước. Việc lựa chọn để thành một tuyển tập như anh hỏi, cách của tôi là lấy những bài thơ đăng báo rồi, những bài được phổ nhạc...Còn lại là những bài ít nhất cũng có một câu "hay" mà mình ưa thích hoặc theo yêu cầu của một số người đọc..vv.. NMT: 8/ Hỏi một cách thành thật, anh có chịu ảnh hưởng của một thi sĩ nào khác không? Việt Nam hoặc ngoại quốc? Ở trong nước hay ở hải ngoại? HND: Điều chắc chắn, là không một ai mà không ảnh hưởng, nếu ảnh hưởng "cái hay" thì chẳng có chi đáng nói. Nhưng, sự ảnh hưởng ít ra "để phải" có cái riêng cho mình chứ?! Mà, để có cái "riêng" là điều không dễ. Vấn đề tôi ảnh hưởng, thật sự chính tôi không biết. Vì, một khi đã gọi rằng chúng ta có đời sống văn hóa, thì chất "văn" của mọi người cũng như của tôi, nó đã "hóa" từ rất lâu rồi. Với tính "hóa" ấy, trở thành của chung cho mỗi cá nhân trong đời sống. Thế nhưng, việc phân tích sự ảnh hưởng của các tác giả, là điều người ta đã làm từ lâu rồi, và hiện nay, cũng nên tiếp tục làm. Riêng tôi, phần này nhường lại cho người đọc đánh giá. NMT: 9/ Anh lựa chọn sẳn một thể tác nào cho thơ của mình trước khi sáng tác? Hoặc, thả tự do theo cảm hứng của mình? HND: Tôi luôn thả tự do theo cảm hứng. Nhưng đôi khi cũng lạc qua thể tác mình ưa thích. NMT: 10/ Trong các yếu tố: hình ảnh, cấu trúc, ngôn ngữ, ý tưởng, anh nghĩ rằng yếu tố nào quan trọng nhất? HND: Quan trọng nhất vẫn chỉ là ngôn ngữ. Bởi ngôn ngữ như một chuyến xe chở đầy những hành khách, trong đó hành khách hình ảnh hay hành khách ý tưởng luôn tác hợp trên cùng một chuyến xe ấy. Về phần cấu trúc, chẳng khác chi những bánh xe lăn trên các lộ trình do "tay lái ngôn ngữ" điều khiển. NMT: 11/ Làm thơ, anh có nhắn gởi đến một ai không? Cho người tình, cho bạn bè, cho người thân thuộc...? HND: Làm thơ hay viết văn, là những việc làm văn hóa, cũng là người bạn đồng hành với những công tác truyền thông. Thế nên, với tôi mỗi bài thơ hầu như là những thông điệp mang chuỗi tín hiệu thông tin đến cho những mối liên hệ cần thiết. NMT: 12/ Có lẽ, anh đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống và phải chịu nhiều ảnh hưởng của thời thế. Nhưng, hình như thơ của anh ít đề cập đến... không hiểu, điều ấy có chính xác không? với toàn thể những bài thơ anh làm? HND: Thơ trước kia của tôi, đã "đề cập nhiều" đến thời thế, nhưng hiện nay thì khác... Dù có cách tân hay làm mới cho thơ, tôi vẫn không chịu làm theo kiểu hơi "nói trắng" ra, như theo thơ hậu cận đại của các nước. Sức mạnh của "ẩn dụ" như một nội lực mà tôi thường dùng, một phần cũng giống như "chiều sâu" của thơ Khế Iêm, của Du Tử Lê..., nhưng lại khác với sự bí hiểm và khó giải của Lê Đạt... Vì vậy, Nếu cho rằng tôi ít đề cập đến thời thế là một điều không hẳn. Bởi, ngồi trên chiếc thuyền thời thế gặp cơn bão dập mà không điên đảo, kinh hoàng, hay không chóng chọi để sống còn, đó là một điều không thể chấp nhận được. Nói chi, với tôi lại cũng là một sĩ quan QLVNCH, với 7 năm tù cải tạo, ảnh hưởng này trong thơ, văn, chắc chắn phải có nhưng với một cung cách khác... NMT: 13/ Thơ, theo anh là những điều bất khả tư nghị hay có thể giải thích được? Với "Lối khác" anh có mục đích giãi bày cuộc đời và tâm tư anh không? HND: Thơ, có thể bàn bạc hay giải thích được - trừ một bài thơ "hay" dù sự hay ấy bị hạn chế tùy thuộc vào khả năng người thưởng ngoạn, hoặc giả không cùng một tần số cảm thụ. Với đứa con tinh thần của tôi được sinh ra, là một "lối thoát", giải tỏa sự bức xúc của đời sống. Nếu không, tôi sẽ dễ đi về... "cõi của Nguyễn tất Nhiên". NMT: 14/ Thơ của anh có nhiều hình ảnh lạ, do đó người đọc khó có thể hiểu và cảm nhận một cách chu đáo. Đó có phải là dụng công của anh, để tạo một hình thức và nội dung thi ca khác với người thường? HND: Thơ phun ra từ những dòng cảm xúc mạnh, dù sự tiết chế hay nén lọc nào, tôi vẫn không cho thơ đi lệch tính thơ. Nghĩa là thơ không chỉ có xác mà không hồn. Và... hồn thơ chính là nhịp đập của trái tim. Nên dù người đọc khó hiểu hay khó cảm nhận chu đáo, đó là việc tế nhị cần thiết của họ. Riêng tôi, luôn vẫn là việc... "tu" để cho thơ tôi mỗi ngày một "nên thơ". NMT: 15/ Trường hợp nào anh làm thơ? Vui, Buồn, Chán nản, Hy vọng?.. HND: Tôi chỉ có thể làm thơ trong lúc buồn, chán nản hay trầm cảm. Có khi với một tia hy vọng nào đó thơ cũng có thể đến, nhưng trường hợp này rất hiếm... NMT: 16/ Về thơ phổ nhạc, anh có nghĩ đó là một phương tiện tháp cánh cho thi ca từ âm nhạc? Hay, thơ và nhạc là hai phương diện khác nhau và ít có liên quan với nhau? HND: Thơ, tự nó có đủ chân đi và đủ cánh bay, nhưng nếu thơ được gắn thêm cho đôi hia hay tháp cho thơ dài thêm đôi cánh, dĩ nhiên những phương tiện này giúp cho thi ca có sức lướt gió nhanh hơn gấp nhiều lần, để đi vào lòng người một cách có hiệu quả. Việc mất thi tính, là điều không thể tránh khỏi, vì được bên này thì mất bên nọ. Nhưng, đã gọi là thi ca, thì khi "thi" làm ra mà được "ca" đó là việc đúng nghĩa. Phần nói về thơ và nhạc là hai phương diện khác nhau, điều này không sai, nhưng về việc ít liên quan với nhau là một điều không đúng hẳn. NMT: 17/ Có lúc, anh xử dụng nhưong ngôn từ rất đời thường, bình dị?. Theo anh, đó có phải là dụng công để mang thi ca vào lòng người thưởng ngoạn? HND: Thưa anh, đúng như vậỵ Vì giới thưởng ngoạn thuộc về số đông, sự thay đổi một ít để thích nghi là điều nên làm... NMT: 18/ Hoàn tất tập thơ này, anh có vui không? Và, dự tính nào tiếp theo? HND: Xong tập thơ này, tôi rất đổi vui. Dự tính tiếp theo cũng là lo in thơ. Tập "Anh Biết, Em Yêu Dấu" đang chuẩn bị layout, hy vọng sẽ hoàn tất trước cuối năm 1999. NMT: 19/ Anh có tin tưởng nào về thi ca Việc Nam ở hải ngoại bây giờ? HND: Dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại như đang chảy xiết, riêng lãnh vực thi ca đã không kém phần sôi nổi. Tôi tin rằng, những công trình đóng góp của người làm văn nghệ ở ngoài nước, là những dấu son đận nét chói rạng... NMT: 20/ Có lúc nào anh thích làm thơ? Và lúc nào anh chán nản nó? HND: Thơ xuất, nhập bất thần. Nguồn cảm hứng có thể tuôn ra bất cứ lúc nào. Nhưng, lúc làm thơ thích nhất, ở Mỹ chỉ có lúc tịnh lắng vào ban đêm. Việc chán nản làm thơ, nơi tôi, trải qua muôn vàn thử thách vẫn không bao giờ có cảm giác đó. NMT: 21/ Một ngày của nhà thơ Hà Nguyên Du? HND: Việc làm, từ đầu tuần chí cuối tuần, cứ sáng sớm ra đi đến tối về. Mọi bận bịu thường dồn vào hai ngày nghỉ, nên thứ bảy hoặc chủ nhật chưa chắc được thoải mái. Nhưng, tôi vẫn thích dành riêng vài chục phút để ngồi bên ly cà phê ở quán, với anh em văn nghệ. NMT: 22/ Anh có điều giãi bày thêm với độc giả yêu thơ? HND: Bao giờ tôi cũng trân trọng và quí mến độc giả yêu thơ. Tôi vẫn luôn lắng nghe sự góp ý của người đọc với một lòng chân thật ./. NGUYỄN MẠNH TRINH (Lối Khác (1998)
ANH BIẾT, EM YÊU DẤU
|
author: hà nguyên du cover design: khánh trường layout: quỳnh chi illustration: lê thánh thư photograph: brian doan publisher & distribution: tự lực printed in the united states of america |
![]() |
||
ANH BIẾT, EM YÊU DẤU |
- Tựa
phần thơ - Lại Hớt Hải
- Thê Noa
- Nhân Chứng
- Hỗn Quân
- Viết Ở Ficomp, Santa Ana
- Chuỗi Thơ Rời Los Angeles
- Anh Biết, Em Yêu Dấu (1)
- Anh Biết, Em Yêu Dấu (2)
- Phải Thế Không Em?
- Doản Khúc Mê, Tỉnh
- Thở Dài
- Chứng Gả Bán
- Hộp Đen Thơ
- Phụ bản Lê Thánh Thư
- Nhập
- Bởi
- Bào Thai Cảm Xúc
- Hào Quang
- Cảm Pasternak
- Thông Điệp Mây Đen
- Vỡ Hệ
- Xuân Ly
- Nguyên Đán Chùm Gởi
- Trần Tình Khúc
- Dẫu Thế Nào
- Độc Thoại
- Đóng Đinh Chữ
- Em, Những Cánh Cửa!
- Hành Tinh Điên, Mê
- Không Còn Gì
- Lôi Mặt Trời Trở Lại Hành Tinh
- Những Phiến Vỡ Nhiệt Đới ...
- Mấy Tia Rời...
- Dụ Ngôn Mùa Đông
- Phụ bản Lê Thánh Thư
- Hạ Nguyên
- Màn Âm Hưởng
- Tiếng Vỗ Cạn Bầu
- Mạch Dẫn Cho Tim
- Nhũ Hương
- Gene Đại Dương
- Thuần Điệu
- Em Tín Nữ
- Chải Tóc Đi Em!
- Vẫn Nhớ
- Đêm Bật Dậy
- Chút Lý Vụn
- Ẩn Hiện Một Đời
- Nguyệt Lữ
- Em, Tha La
- Tức Cảnh Sinh Tình
- Dưới Nắng Xế Ba Ngồi Sàng Gạo
- Thơ Xuân Nhiều Dấu Chấm Than!!
- Trông
- Lịch Sinh Nhật
- Phụ bản Lê Thánh Thư
- Ký Ức
- Lời Thơ Héo Hoa
- Nâng Cốc Sầu Tan
- Bước Thải
- Bi, Đá và Hổ
- Quán
- Thơ Tôi, Còn Đang …
- Trắng Đen, Đen Trắng
- Lá Đêm
- Bố Cục Mới
- Tuần Lưu Hoạt
- Con Đường Và Tôi
- Điệp Khúc Thiên Niên Kỷ
- Vấn Nạn Thế Kỷ 21!
- Chuyện Bụi Và Đất
- Tôi Sinh Tôi
- Thu Tịnh
- Lên Núi, Vô Rừng
- Lẽ Đâu ...
- Khói Tương Tri
- Hạt Tử Sinh
- Cái Board, Con Chip
- Lời Trối ... Về Một Dự Đoán
- Tiết Tấu
- Hè Và Em
- Phụ bản Lê Thánh Thư
- Bác Nông Dân
- Tôi Đã Luân Hồi Tôi, Qua Em
- Thương Con
- Ca Dao Tôi...
- Đêm Tôi Giác Ngộ
- Người Không Sinh Đất
- Ta Cây, Lá Lệ ... Vàng Rơi
- Hữu Dũng
- Niệm Bất Khả
- Em Và Lối Thoát
- Người Muôn Thuở
phần thơ phổ nhạc - Em Là Vòng Nhật Nguyệt
- Khúc Ly Tao
- Đêm Hạ Huyền
- Cho Em Bài Sonnet
- Cho Tôi Bài Tango
- Khi Bước Tình Đi Qua.
- Ôi! Nhan Sắc / Trần Duy Đức
- Em Có Về Ta
- Người Có Về Ta
- Vương Khói Thuốc Bay
- Em Có Về Như Những Cơn Mưa
- Chồng Thư Cũ
- Biển Gọi Tên Sông
- Còn Đậu Nhánh Tình
- Ngày Mai và Đôi Mắt
- Tiếc Như Dòng Sông
- Trái Tim Học Trò
- Ví Dầu Tình Ta
- Tình Nhớ Khôn Cùng
- Tình Rơi Theo Ánh Tà Huy
- Đã Rồi Một Cánh Chim Bay
- Nhớ Người Vương Khói Thuốc Bay / Trần Văn Toàn
- Tình Như Cành Lá Thu Phong
- Tình Ta Dưới Ánh Mặt Trời
phần nhạc - Em Là Vòng Nhật Nguyệt
- Khúc Ly Tao
- Đêm Hạ Huyền
- Cho Em Bài Sonnet
- Cho Tôi Bài Tango
- Khi Bước Tình Đi Qua.
- Chồng Thư Cũ
- Ôi! Nhan Sắc / Trần Duy Đức
- Vương Khói Thuốc Bay
- Em Có Về Ta / Phạm Anh Dũng
- Người Có Về Ta / Trần Duy Đức
- Em Có Về Như Những Cơn Mưa
- Còn Đậu Nhánh Tình
- Ngày Mai và Đôi Mắt
- Tiếc Như Dòng Sông
- Ví Dầu Tình Ta
- Trái Tim Học Trò
- Tình Nhớ Khôn Cùng
- Nhớ Người Vương Khói Thuốc Bay / Trần Văn Toàn
- Tình Như Cành Lá Thu Phong
- Tình Ta Dưới Ánh Mặt Trời
- Biển Gọi Tên Sông
- Tình Rơi Theo Ánh Tà Huy
- Đã Rồi Một Cánh Chim Bay
phần đọc và viết về thơ hà nguyên du - Trần Hồng Châu, Nhà thơ
- Du Tử Lê, Nhà thơ
- Hoàng Ngọc-Tuấn, nhà lý luận văn học
- Phạm Xuân Đài, Nhà văn
- Huy Trâm, Nhà thơ
- Ngô Mạnh Thu, nhạc sĩ
- Lê Mộng Nguyên, nhạc sĩ
- Nguyễn Vy Khanh, nhà biên khảo
Lần cập nhật cuối (Chủ nhật, 14 Tháng 2 2010 05:38)











