jefLAERHJSHFBNHSJBGRAfhjglhjglfhblh
1 2 3 4
NHỮNG PHẦN THỊT, XƯƠNG MỚI, TRONG SINH PHẦN THƠ HND
Tôi muốn gọi đó là sự hóa thân kỳ diệu của một con ngài, để trở thành cánh bướm. Tôi muốn gọi đó là phần thưởng vô giá của một ăn ở tốt đẹp, bất biến. Mặc dù, ánh sáng, mầu sắc, hình tượng mở ra lần thứ nhất, đôi khi đã làm/ chóa mắt/ choáng váng nơi cảm, nhận của họ Hà. Nhưng, vòm cao, sẽ là nơi cánh bướm bay lên. Chân trời, sẽ là nơi họ Hà đi tới. Tôi rất mừng, vì không phải đời thơ nào của chúng ta hôm nay, ở quê người, cũng có được chân trời, mênh mông và, vòm cao, bát ngát kia. Cảm ơn người bạn thơ của tôi; cảm ơn người tình chung thủy của thi ca, đã cho văn học Việt Nam, niềm hy vọng vạm vỡ và, tươi mát ấy. DU TỬ LÊ Feb., 97 Thi Tập Lối Khác (1998)
“ LỐI KHÁC “ CỦA HND HAY LÀ ÓC NÃO ... LM Nguyên (Paris )
Tác giả ‘ Lối Khác ’ không những đã đạt được một lối khác cho đời mình mà còn đạt được một lối khác cho thi ca Việt Nam. Hà Nguyên Du thi sĩ không tương tợ với ai trong vườn thơ nước nhà. Tôi đã cố tìm kiếm và đọc lại các văn thi sĩ trong ‘ Thi Nhân Việt Nam ’ ( Hoài Thanh – Hoài Chân ), trong 5 Bộ ‘ Nhà Văn Hiện Đại ’ ( Vũ Ngọc Phan ), trong 9 tập ‘ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến ’( Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng ), để đi tới một so sánh nào ( có thể ) với HND nhưng phải thú thật là rất khó khăn. Trừ phi Đoàn Phú Tứ (có lẽ) với mấy câu tuyệt vời trong ‘ Màu Thời Gian’ : Màu thời gian không xanh / Màu thời gian tím ngắt / Hương thời gian không nồng / Hương thời gian thanh thanh mà theo Hoài Thanh – Hoài Chân : ‘ Người xem thơ cũng biết rằng đây là hình ảnh một đôi mẫu đời, nhưng hình ảnh mờ quá không thể đoán những mẫu đời kia ra thế nào. Có khi cả ý nghĩa bài thơ cũng không hiểu rõ ’ Sự so sánh hơi quá đáng này phải chấm dứt ngay ở đây : bởi vì – trái với ĐPT – danh từ và từ ngữ của họ Hà rất sắc sảo, nhắm làm nổi bật bức tranh ông phát họa cho đời. Hình ảnh nhà thơ để lại cho hậu thế, thật giống nét vẽ của Daumier trong thế kỷ thứ 19.
BÀI VIẾT Trần Hồng Châu
Hà Nguyên Du là một người đam mê thơ, có tuổi thơ – tuổi làm thơ - dàn trải trên nhiều thập niên. Thơ về người nữ, khi hiện thực khi trừu tượng, về những ngày đen tối , vạch đá làm thơ trong nhà tù, về nụ cười nước mắt định mệnh của bản thân và quê hương... Tác giả luôn luôn tâm niệm theo mới, tuy biết con đường trước mắt không phải là đầy hoa. Ông đã thành công trong một số bài, nhờ niềm cảm thông gắng bó với ngôn từ, và kỷ thuật không theo đường mòn. Hôm nay, khi tác phẩm chào đời và không còn là của riêng người sáng tạo nữa, điều đáng ghi nhận là tâm thành và nhiệt tình của H.N.Du. Tâm đó, tình đó không phải là tất cả, nhưng là một điều kiện phải có. TRẦN HỒNG CHÂU, Nhà thơ, Nguyên Khoa trưởng Đại học Văn Khoa Sàigòn Thi Tập Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)
BÀI VIẾT Hoàng Ngọc-Tuấn,nhà lý luận văn học
Nhiều người vẫn cho rằng bằng chứng thành công của một nhà thơ là một tiếng thơ đã định hình. Ngược lại, tôi cho rằng một tiếng thơ đã định hình là một tiếng thơ đã bắt đầu kiệt sức; và thái độ kéo dài một tiếng thơ như thế là thái độ của một người thợ quen tay nghề, chứ không phải của một nghệ sĩ sáng tạo. Hành động sáng tạo đích thực phải là hành động liên tục tìm tòi và phủ định, bất chấp sự thất bại. Nỗ lực sáng tạo đích thực không chấp nhận việc dừng lại ở một phong cách và ăn bám vào phong cách ấy suốt cả một đời. "The artist is always beginning... Any work of art which is not a beginning, an invention, a discovery, is of little worth", Ezra Pound đã nói rất chí lý như thế. Suốt mấy mươi năm qua, thơ của Hà Nguyên Du cho thấy một thái độ tìm kiếm, thí nghiệm và thay đổi không ngừng về phong cách. Đó là dấu hiệu của một nỗ lực sáng tạo đáng trân trọng. (HOÀNG NGỌC-TUẤN, nhà lý luận văn học) Thi Tập Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)
jefLAERHJSHFBNHSJBGRAfhjglhjglfhblh
Startseite1
Startseite2
Startseite3
Startseite4
Startseite5
Startseite6
Startseite7
Startseite8
jefLAERHJSHFBNHSJBGRAfhjglhjglfhblh
VIẾT VỀ THƠ HÀ NGUYÊN DU PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ sáu, 08 Tháng 8 2008 23:32

THƠ HÀ NGUYÊN DU  " Anh Biết, Em Yêu Dấu "

 

Từ khi nhân tố HO thêm vào cho cộng đồng người Việt hải ngoại, thi ca Việt Nam vốn ngày càng dày dặc rậm rạp củi rừng bỗng trổi lên những tiếng thơ con chữ của hy vọng. Hà Nguyên Du nằm trong số đó, với hai tập thơ, Lối Khác và tập hôm nay đây.

 

Người đi tìm thi tính, bước trên những lối lạ lẫm của Hà Nguyên Du sẽ không thất vọng. Những vần thơ cho cảm tưởng tay thợ sành rốt cùng có chất nghệ thuật, đầy ẩn dụ và tiềm tàng hứa hẹn. Dọc suốt tập thơ, một chất nghệ khi âm ỉ khi hiển nhiên, người thơ tỏ một tâm hồn nhạy cảm nhưng cũng cương quyết theo tình huống của phút giây, của hoàn cảnh ngoại vi chung đòi hỏi. Đây là một người thơ sống, thở để sáng tác, sống vì thi ca, sống mạnh với những tinh tế của nghệ thuật, với ý chí nỗ lực mở những con đường mới!

 

Hà Nguyên Du có vẻ làm khó người thưởng thức thơ với chữ dùng hiếm, bất ngờ, những cung nhạc đứt đoạn, những tình ý bỏ ngang,... nhưng cũng chính đó là nét đặc biệt của Hà Nguyên Du. Anh như cút bắt với thơ, thơ xuôi mà không xuôi, thơ mà như nói thường, phẫn nộ, đối thoại, giao tiếp... Những vần thơ nhịp nhàng hay trắc trở , tỏ tình hay oán trách. Ở hình thức, xuống hàng, vần bằng trắc, thanh bình thượng, cách ngắt câu, chơi chữ như tự điển xếp nhầm bộ, thanh. Ở dùng dấu chấm than (Thơ Xuân Nhiều Dấu Chấm Than!!), ở hình thức xếp chữ lên trang - toàn bài Bố Cục Mới hiện thành chữ B, bài Hữu Dũng có dáng chữ S, Bào Thai Cảm Xúc dáng chữ C mà như E viết hoa hay chỉ là mũi tên bào thai gây xúc cảm? Bài Hào Quang chữ hẹp dần sau khi đã rộng mở - có thể cốt bày tỏ cho người đời những tâm tình phản kháng, nhức nhối, tư duy, chán chường... của một hồn thơ từng đã phải sống trong những hoàn cảnh không lựa chọn, xác hồn bị đọa đày, nhưng tâm hồn luôn thao thức, luôn hướng về đẹp, thật,... Những vần thơ có cái vỏ cay đắng, bạo động,... nhưng bọc cái ngọt ngào của mía hấp chín tới của tình người !

 

Thơ Hà Nguyên Du làm người đọc văn chương choáng ngợp vì nặng nề những tương phản của tình ý và của đời sống hiện thực. Thơ ở đây là tận cùng cảm xúc, cái còn lại sau những đam mê, sống thật. "tôi sinh tôi / sinh nhiều thơ / lắm con chữ rặn / như phờ phạc ra / một bào mang nặng / trên ta / một khối u uất,..." (Tôi Sinh Tôi). Hà Nguyên Du định nghĩa thơ "như hơi thở / một sinh lý cập nhật" sau khi "không còn gì để cho / khánh tiệt" vẫn hãy "còn thơ còn thơ"(Không Còn Gì). Thơ như một cứu rỗi thiết thực :

"... và riêng em riêng em
dụ ngôn ta thấm mật bông quỳ
lúc đời là mùa đông ngã âm
mùa đông đóa hồng hết rộ
le the cúc héo vô thường
chút ráng em pha vòm cây cuối ngõ
núi đứng u tình sợ bóng đi qua
thơ cứu rỗi trên từng nhịp đập
như thiền sư tiếp ngộ phút giây"
(Dụ Ngôn Mùa Đông)

vì thơ có thể soi tối ám:

"... thơ huyết tự
bật đèn
soi bóng tối
phàm tha nhân
chính hệ
xác thân này!"
(Thuần Điệu).

"Biển đời dâng cuồng nộ" thành phải "để con chữ / ru hời cơn thống khổ / thương con thơ mong thoát chỗ lưu đày" (Thương Con). Thi ca trở thành ánh sáng hay hy vọng cuối: "xoáy trôn ốc / đi vào vũ trụ /quây hướng tâm / thâu đủ chuyện đời / ta là ta / của trăng vơi / của con nước cạn / của mồi hư vô / em là em / của ta thơ / của miên viễn / của bến bờ chân, như" (Chân, Như).

Cũng có khi người thơ hổ thẹn, muốn Đóng Đinh Chữ, có khi khứu giác không làm đủ bổn phận "khiến chữ thông tim / thơ phù sa đất cằn / chả đếm xỉa đến mùi lai riêng hoa" (Viết Ở Ficomp, Santa Ana). Người thơ có cái tâm sâu, nhạy cảm, với những sinh vật rất thường:

 

"anh biết, em yêu dấu
khi dòng sông trôi
sông cuộn mình cuốn đi muôn chất thải
nước giảm xanh
rong rêu ám màu lây vạ
sóng nẩy tâm sinh sát bọt bèo..."
(Anh Biết, Em Yêu Dấu 1)

 

Thơ Hà Nguyên Du có nội dung, chuyên tải tâm tình, tâm sự hay thông điệp, kinh nghiệm để lại. Những vần nhẹ, thơ mộng âm hưởng:

"... chồng thư cũ với lời em ước hẹn
ôi giờ đây ! con nước xoáy quay cuồng
ta thương quá, nhớ hôm làm quen nọ
lúc hôn nhau, em sẽ nói xa trường..."
(Chồng Thư Cũ)

"... rừng xác xơ thu, lá dấu lối mòn
tình yêu ngày cũ
rừng lá di quân, ngày nao có kẻ...
ngọc ngà tình nồng
lộng chí phiêu bồng, ta vẫn yêu em
một lòng, một lòng..."
(...Còn Đậu Nhánh Tình)

"... hè đang đến, em nói gì với nắng?
tiếc thương không lá rụng trống cành khô?
con ve cũ còn ngân muồi nhã nhạc
em nhớ gì đóa phượng ép trong thơ?..."
(Hè Và Em)

 

Làm thơ, sống thơ, là "mở toang hoác, từng ngăn ký ức / tình khai nguyên, hốt tỉnh, diện hình / em ẩn náu thần kinh, thớ thịt / dẫu lặng im mà chẳng lặng thinh..." (Ẩn, Hiện Một Đời), vì thinh làm sao được khi dấu vết quê hương đầy ký ức, thịt da, Tha La xóm đạo của Hà Nguyên Du là Mary, là "ngọc".

"Mary em, ngày xưa khó quên
đang cùm gông mà em ngoan hiền!
em cho ta một trời nghị lực, một trời thơ mạch
chảy vô biên
...Mary em, người em Tha La
ngăn muôn trùng mà ta không xa
mai ta về lại tìm em, ngọc, mai ta về thăm tìm
em, hoa..."
(Em, Tha La)

Cái nền quá khứ khổ hận có thể để lại dấu vết:

"keo tử sinh
chỉ linh với Thượng đế
phố mọc lên rừng
mảnh mảnh đấu đá
mắt mắt trợn ngược
thấu tận bốn ngàn năm
oan hồn xiết rên đâu đây
thời chờ minh quân
hỗn quân"
(Hỗn Quân)

Quá vãng là tối đen Rụi Đời "trại a / trại b / a 1, b 4 / còng 8 / còng U /chủ nghĩa, chủ mưu / rụi hết đời trẻ". "Tôi con chim gãy cánh lúc tan bầy
tôi con ngựa què chân khi bão nổi..."
(Em Và Lối Thoát) cho nên

"một khi ta đi khập khểnh
mà trên vai lại quằn!
với những con đường chưa đến
với bao nỗi sầu miên man
với trăm ngàn căn bệnh...
đến từ ngả oan khiên
dẫu thế nào cũng là cuộc đuổi bắt..."

(Dẫu Thế Nào)

 

Vì đâu mà oan khiên? Phải chăng "bốn ngàn năm hiến / bốn ngàn năm chia / ung cả hạt bí / chết cả dây bầu / bực chiếc thùng rỗng / kêu rách nhỉ / tức tay hèn / đấm vỡ mấy hệ" (Vỡ Hệ). Nhà thơ cũng có lúc phẫn nộ dễ hiểu, vì

"hơn nửa vòng trái đất xa xôi
ta luôn thấy gần như gan tấc
bởi nguồn cội vẫn nằm trong tim chật
bởi tình yêu như máu thịt xương da... "
(Vẫn Nhớ).

Và nhớ nhiều. Vì dù ở chốn nữ thần tự do tình đời thế thái vẫn là thường, mà phường tuồng thì không tìm vẫn phải nhìn thấy:

"... thúng úp voi
đao phủ giảng đạo
... phường dở hóa trang
lại sắm tuồng
ấm ớ kịch bản
mê đón gió
tợ múa rối..."
(Không Còn Gì).

"Tha hương, ta khách trú bơ phờ"
(Nguyệt Lữ),

 

đành thôi Chải Tóc Đi Em, để còn lo cho mẹ và em ở quê nhà, ai nói tha hương là nói mẹ cha mà ký ức buổi nào Dưới Nắng Xế, Ba Ngồi Sàng Gạo thế mà "nay nắng xế ai ngồi sàng gạo? / chắc thay bóng Má ngồi mong con! / thằng con phóng lãng xa nghìn dặm / sống kiếp tha hương, nhớ mỏi mòn". Cùng cực bi quan, có khi muốn buông xuôi trần thế để lại Lời Trối ... Về Một Dự Đoán. Bởi sống có một mình ên là một kinh nghiệm nhiều khi chết người: "đoạn cầu, cầu đoạn chênh vênh / thất thơ thất thổ mình ên cõi này!" (Bước Thải). Buồn nhưng không tuyệt vọng, vì còn có những hoài vọng (Trần Tình Khúc), thao thức: "tiếng vỗ cạn bầu hay tiếng chuông?!" (TVCB).

"đất hiếm lên trúc
tìm mai đâu trong ngàn cây tạp xanh?
truyền thông điệp sương
mầm xanh thấm không qua giọt lời cổ thụ?
thơ hành trình
lãnh nhiệm phép mầu tiên dược..."
(Hé Nụ).

Thì ra thế; và đó là chủ quan của nhà thơ!

Có thể nói nét riêng của thơ Hà Nguyên Du nếu phải so sánh, là ở nhiều hình ảnh lạ, cố tình, nhiều và lạ, thân quen với nhà thơ nhưng có thể lạ với người đọc thơ. Anh như người nhiều tâm sự muốn chia xẻ, nhiều kinh qua muốn ghi lại, gửi gấm, nhiều tâm niệm muốn ghi lại kẻo mất. Em, tình yêu, là vòng nhật nguyệt, vừa luân hồi vừa thường hằng, trong cõi âm dương, như trong tâm cảm,

đóa hoa nầy trong cõi buồn sinh, diệt
nhân gian nầy đâu thoát được tử sinh?
em chính là em là vòng nhật nguyệt
cho ta hơi thở, cho nhục cho vinh..."
(Em Là Vòng Nhật Nguyệt)

Hay khúc ly tao xưa nào đó mà Hà Nguyên Du vọng nghe thấy qua những vật của hiện thực trần trụi:

"tình còn xanh lá còn kết hoa không?
sao như ve ru trên cành ngô đồng
sao như sông xưa ròng đi ngọn nước
em mắt môi buồn khép kín chờ mong
... mình còn mơ ước còn ngóng trông nhau
mây mưa tan hoang mây lại giăng sầu
em như ăn năn khi tình lạc bước
anh sống lưu đày hát khúc ly tao..."
(Khúc Ly Tao).

 

Hình ảnh đẹp buồn Tình Rơi Theo Ánh Tà Huy:

' mặt trời nghiêng, mặt trời xế bóng
em nghe chăng kiếp người mau chóng?...".

Thơ hôm nay với hình ảnh cũ khói thuốc bay:

"... ta nhớ người vương khói thuốc bay
nhớ héo cành xuân, nhớ trắng canh chầy
tâm ta rung mãi theo triều sóng
em hỡi! em nào đâu có hay?..."
(Nhớ Người Vương Khói Thuốc Bay)

 

Tiềm thức ca dao nơi những dòng thơ thời Rap:

 

"qua sông nhớ những nhịp cầu
qua truông còn thấm nỗi đau nghiệt đời
qua đêm càng quí mặt trời, qua nhân gian thấy
tình người nổi nênh, qua đâu mà chẳng qua em?
qua muôn thách đố qua phiền lụy vây, qua ai qua
chùm vạ lây, qua non nước khốn qua đày khắc
lao, qua sông nhớ những nhịp cầu, qua thơ qua
với tầm dâu ngặt nghèo..."
(Ca Dao Tôi...)

Rõ thơ là chốn giải tỏa cuồng độ và lượng số của cuộc sống. Trong tình yêu, tận cùng mọi ngõ ngách bản năng: "cứ hôn anh / hỡi đôi môi thần hỏa / chạy theo đôi tay thủy triều / cứ mặc tình mặc tình / tưởng như con hổ / xé gọn nai tơ / lúc đang đói / thân em như trái chín / tuyệt mộng / anh lữ khách đường trưa / hổn hển trống bụng / chắc hẳn không sợ phạm giới luật như thầy tu! / không nhịn trong cơn đói ngất!

Cứ quấn anh đi / quấn như trăn / bằng những đường cong giết người / mùi trái cấm như xạ hương ngộp / lạc cả hồn phách / đã mở cửa sinh... / cũng chính là cửa tử!..." (Hành Tinh Điên, Mê)

Thơ sáng tạo từ con chữ, ngôn ngữ, với một khả năng giao đối, với những tiềm ẩn, vô ngôn. Tại sao không đùa nghịch với con chữ ?

"ký ức ký niệm
trí nhớ trí tri
lửa lòng lửa bỏng
tử sinh tử qui?..."
(Ký Ức)

"... quấn ta vòng lắm nuộc
trặc trẹo ơi chi là ...
trệch đường xe lửa chạy
trĩu trĩu cánh thê noa!"
(Thê Noa)

nghe tình sao trục trặc không trơn tru tí nào !

"dụng tâm
trác những thỏi nhám
ngón đảm ngón lược
rực tia tình yêu trên vách tối ngục
át tiếng trêu ngươi
nở hoa trên nhánh cành nhân ngãi
tích phật lũy chúa
ngã không ngã"
(Ngã không Ngã)

 

Nghịch con chữ như từ đó có thể tìm ra tinh túy cuộc đời, tìm ra chất tinh tuyền của sinh, tình, ... Như niệm con số để tìm sinh thoát trong bài Niệm Bất Khả! Hay những con dấu toán học áp dụng vào cái tôi hay cuộc đời nhiều toan tính:

"tôi không phải là tôi khi tôi tôi chưa tới
tôi chỉ là tôi khi tôi tôi tới tôi và khi tôi
tới tới tôi là tôi tôi phải xa rời tôi để
nhập cùng với những cái tôi quanh tôi
... thành toi khi thiếu dấu ^ và hiểu rằng
dấu ^ là như một chiếc cầu nối chữ
không đơn thuần là một dấu mũ một..."
(Phải Thế Không Em?).

Cứ thế mà đi tiếp với những con dấu ' ^ + = , v.v.

Đặc điểm đáng kể khác của thơ Hà Nguyên Du là lối hài hòa văn tự xưa cũ-hôm nay, từ ngữ-sinh ngữ, tiếng tự điển - tiếng lóng ngoài đường,... Đây phải chăng để diễn tả cái sống đây mà phần nào đã quá vãng, cái sống mòn, sống thừa, hay sống đây mà tưởng đã chết, còn đây mà đã đầy mầm suy thoái như mạ lúa sau cơn lũ dài hơn thông lệ, bởi những tàn độc phá phách của thời gian, thiên nhiên và con người ... Hà Nguyên Du làm chủ cách xử dụng từ, vang vọng văn ngôn nhiều khi lạ lẫm bên cạnh bạch thoại của những tiếng rao, nói, những tiếng gọi, chào, tỏ tình, ngây thơ có, xúc tích có, ... của thường ngày.

"...chờ ai đêm hạ? nước mắt nhung huyền, lỡ trách
tơ duyên, nằm trong nghiệt ngã, lời ru ve hạ, khóc..."
(Đêm Hạ Huyền)

"lại hớt hải với những không đâu
em vẫn trành tròn như nhật nguyệt thực
phàm cõi ấy là tròng..."
(Lại Hớt Hải)

"... em khuyết dần tôi viên ngọc quý
phận đá đời rong ngày dã hoang..."
(Khi Bước Tình Đi Qua).

"...nguyệt tà, dương xế, mây buông
ta, em hát mãi, khúc buồn thiên thu..."
(Đã Rồi Một Cánh Chim Bay).

 

Người không quen theo phong cách Hà Nguyên Du sẽ lẫn thành "nguyệt tà dương xế". Hay "thôi" cũng hơn một cách, một nghĩa:

"...lối ra nào ta tránh đời mai một
hoang đường thôi! thôi cách biệt nhân sinh..."
(Em Là Vòng Nhật Nguyệt).

Hoặc ba câu "nhớ mới đó / giờ xuân ly / nhớ tức tưởi ...", xuân ly chứ không phải phân ly, mà hình như muốn nói phân ly, chắc có vậy cái nhớ mới thành thơ chăng?

Qua lối xuống hàng, chấm câu, kỷ niệm như rời rã theo con chữ :

 

" tiếng ca học trò
hướng lên mặt trời
tiếng ca tình người
tiếng yêu nào vơi
bước đi học trò
lá me đường thơ
mắt xanh vào đời
sáng chân trời mơ"
(Trái Tim Học Trò).

 

Câu dài như nỗi nhớ đọa đày:

"em đã khóc một chiều em đã khóc, mưa ngoài kia như thẹn hạt sa mù
gió ngoài kia như dừng bước phiêu du, kìa nước mắt em là trời bão tố..."
(Nhan Sắc).

 

Rõ là thơ tám chữ đặt cạnh nhau. Xa hơn là dài dòng kiểu Tân Hình Thức, như lời tỏ không dứt, hay muốn ngừng dứt đâu thì cứ dứt ngừng kiểu mệt nghỉ hay khỏi nghỉ theo nhạc Rap! Hãy "đọc" Hạ Nguyên, Gene Đại Dương, Anh Biết, Em Yêu Dấu 2, ... thơ như một lối thở dưỡng sinh ! Câu có thể 8 chữ nhưng vắt dòng bất kể; vần không ngừng ở các dấu ngừng hay xuống hàng mà vắt dòng, muốn ngừng thì ngừng trong tâm thức, giữa câu, giữa đàng!

Nhà thơ còn dùng nhiều thể loại trong cùng một bài bản, thay đổi chăng theo tình tự?

"...chờ ai đêm hạ? nước mắt nhung huyền, lỡ trách
tơ duyên, nằm trong nghiệt ngã, lời ru ve hạ, khóc
ánh trăng nguyền, thức trắng đêm đen, tàn phai
bướm hoa

hạ huyền ơi hỡi!
nắng thêu ngàn cây héo khô cành ta
em lá rơi đầy..."
(Đêm Hạ Huyền)

 

Hà Nguyên Du thử nghiệm nhiều thể loại thi ca, làm mới, khác thơ mới, tự do hóa thơ đã tự do; và ở mỗi thể loại nhà thơ lại thử nghiệm cung cách mới, vận dụng khác con chữ, thế chữ thường dùng ,... Nhạc tính luôn hiện diện, lúc như ca dao, vọng cổ, lúc lại đầy điệu lòng thời đại... Thơ Hà Nguyên Du phải đọc lên mới thấy cái hay, cái thú, cái thơ, tiềm ẩn của âm lời, chữ nghĩa! Những bài như Cho Tôi Bài Tango, Cho Em Bài Sonnet,.. Đêm Hạ Huyền,... phải ngân vang mới cảm được những tiềm ẩn của một nỗi lòng, của những gạch chữ, nốt chấm...

 

Như Hà Nguyên Du từng tâm sự ở đầu tập thơ, sau ba mươi năm ít nhiều vui với thơ, nay anh trở lại tận tình. Và tận tình làm mới, khác. Như một tổng hợp. Với một hình thức hội nhập với xã hội châu Mỹ của điện toán. Từ khi có con người, vẫn có những người luôn tìm kiếm ý nghĩa của ngôn từ, khoác cho chúng nét riêng mỗi thời. Khuynh hướng, trường phái từ đó nảy sinh! Trường phái, tìm kiếm nào rồi cũng chỉ là phương tiện của thi ca, tệ cũng là bài bản gia chánh, thêm thắt vị mới cho món thường dùng. Nhưng nét thơ và nét riêng của một nhà thơ không thể chỉ là gia chánh, mà phải vượt lên chạm đến thi tính, nguồn thơ! Ở lắng đọng, nằm ở chiều sâu, ở con chữ tình cờ gợi đến, ở ẩn dụ khéo tay!

Trong tập thơ thứ hai này của Hà Nguyên Du, phần thử nghiệm theo thi ca thời hậu hiện đại, thời Tân Hình Thức, hypertext,... hãy còn sớm để đánh giá, nhưng người đọc khó tính không quen vẫn có thể cảm được qua một số hình ảnh, vần điệu và nội dung thơ. Ở những bài thật "mới" có thể "chấp nhận" (!), Hà Nguyên Du đã để lại cái gì khác hơn là một thể loại chủ trì hình thức. Hai hay ba phần còn lại Hà Nguyên Du đã không làm thất vọng người sính thơ với những đặc sắc của riêng anh. Nghịch thường thay, ở những trúc trắc chữ dùng, bất ngờ hình ảnh hay nhịp trật, không đợi chờ, ... lại là những nét riêng thành công, như một loại "nhạc tính", "âm điệu" rất thơ!

Đây đó có những lời nhẹ như ca dao, đam mê như tình đầu,... nhưng thơ Hà Nguyên Du không phải là lối mòn đã quen, mà chính là những con đường xa lộ đã mở, cứ mãi xuôi chảy, không ngừng, dù phải trục trặc tâm hồn, bối rối của đời hội nhập ! Thi ca đối đầu với ngôn từ và thực tại!

NGUYỄN VY-KHANH
7-11-2000
( Nhà biên khảo, nhà phê bình văn hoc.)
Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)

“ ANH BIẾT, EM YÊU DẤU ”
CỦA HÀ NGUYÊN DU
HAY LÀ NGÀY NHƯ THẾ TẬN VÌ KHÔNG CÓ EM

Lê Mộng Nguyên

Trong bài ‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ‘’ ( được chọn làm nhan đề thi tập thứ hai của Hà Nguyên Du ), có mấy câu cuối cùng vừa đẹp vừa ý nghĩa, đáp đúng tâm tình nhà thơ trong cuộc hành trình qua tình yêu đến tận cùng ( như thi nhân đã viết trong lời Tựa :

 

‘’ Thơ cứ như người tình luôn vuốt ve, an ủi trong những toan tính đầy mạo hiểm, khi thơ tuôn ra như những dòng huyết tự. Thơ làm thật nhiều qua biết bao chặng đường, kể cả những bài thơ làm lén trong những lúc bị gông cùm không có viết, phải dùng những vật bén nhọn hay sỏi cuội mà viết nên chữ ; nhưng tất cả thơ ấy đều theo dòng thác kinh hoàng mà mất hết. Nhưng rồi thơ cũng tiếp tục sinh sôi bởi sức mạnh của tình yêu, bởi sức mạnh của lý tưởng ’’ ) :

... Một ngày hồn không phiêu bồng
Một ngày hồn ngẩn ngơ
Một ngày ong không lấy mật
Ong quyên sinh
Một ngày bướm không có hoa
Bướm tự vẫn
Một ngày em không yêu anh
Một ngày như thế tận

 

Trong cuộc hành trình khám phá tìm hiểu tư tưởng sâu đậm của tác giả, tôi xin trích dịch đoạn này ra chữ Pháp để cống hiến độc giả thân mến của Nghệ Thuật và làng văn nghệ sĩ đã từng yêu chuộng thi phẩm đầu tay của Hà Nguyên Du :

 

Si un seul jour l’âme ne flottait pas à la dérive,
elle se trouverait engourdie
Si un seul jour l’abeille ne produisait pas la cire et le miel,
elle se tuerait
Si un seul jour le papillon ne trouvait pas de fleurs à sucer,
il se détruirait
Si un seul jour tu ne répondais pas à mon amour,
Ce serait la fin du monde et de mes jours.

 

Nếu « Lối Khác « là óc não và xương thịt của một thi nhân « x. Nghệ Thuât số 66, th 09 – 1999 ), ‘’Anh Biết, Em Yêu Dấu ‘’ là một tán dương ca hùng vĩ của tình yêu bất diệt qua một triết lý rất đặc biệt về linh hồn và xác thể :

Tôi đã luân hồi tôi, qua em
Tôi đã luân hồi thơ, qua tim
Tôi sinh từ đất tanh hơi máu
Tôi chết từ đâu những nổi chìm ?
Bằng Pháp ngữ, tôi cảm giác như sau :
Par métempsycose je revis une autre vie, dans ton corp
Par métempsycose je revis ma poésie, dans mon coeur
De la terre nauséabonde et dans l’odeur de sang je nais et meurs
D’ou ma mort vient- elle sinon des vicissitudes du bonheur ?

 

Cùng theo một ý niệm về cuộc đời thi nhân, HND đã kiếm tìm cho ta thưởng thức bài thơ ngắn của F.W Bourdillon bằng tiếng Anh ( The night has a thousand eyes ), có bốn câu chót rất diễm lệ :

 

The mind has a thousand eyes,
And the heart but one
Yet the light of the whole life dies
When love is done.
Đã do Thi sĩ Viên Linh dịch ra bằng tiếng Việt (ngắn và sâu sắc) :
Trí tuệ có nghìn con mắt
Trái tim chỉ có một,
Nhưng ánh sáng của cả cuộc đời sẽ tắt
Khi tình yêu đã hết

 

Nhưng tin tưởng trong luân hồi Phật giáo và đặt tất cả niềm hy vọng vào tình yêu vĩnh cữu (mặc dù có đôi lúc chán nản), đối với nhà thơ họ Hà : ‘’... cuộc đời có lẽ không bao giờ tắt, dù tình yêu hoa mộng đã chết, để lại vết thương tang tóc cho tâm hồn ... Rồi tình yêu khác sẽ tái sinh, sẽ đâm chồi nẩy lộc và trở về tiếp tục ngự trị trong trái tim thơ, trong trái tim chứa đầy nhân ái. Một trái tim luôn nóng hổi như ánh thái dương trên quê người luôn chói chang. Một trái tim không bao giờ vơi tình yêu tha nhân và đồng loại, không bao giờ mờ phai hình ảnh quê nhà! Nhất là không bao giờ ngưng nhịp đập thơ! ’’ (Tựa HND). Sở dĩ tôi trích đoạn dài này từ bài Tựa HND vì qua nó, tác giả ‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’ muốn phát ra một bản tuyên ngôn cho đời...

 

‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’, là một cuộc hành trình đi ngược dòng thời gian trong quá khứ của một mối tình đã qua, tương tự Marcel Proust đã đi tìm thời gian đã mất ...

(‘’À la recherche du temps perdu ’’ 1913- 1922 ). Chẳng hạn khi người thi sĩ hồi tưởng xa xưa, qua những kỷ niệm còn ấp ủ trên giấy hoen mờ :

 

Chồng thư cũ úa vàng bao lớp bụi
Ta vàng theo năm tháng trái oan đời
Em bên ấy có quen hờn quen tủi ?
Có đương nhiên quên quá khứ xa xôi ?

Ngày hai đứa ghé đầu chung nón nhỏ
Vai kề vai tim thánh thót reo mừng
Em tha thiết mãi thêu thùa, mơ mộng
Nói bên nhau cho hết kiếp chia, phân... ( Chồng Thư Cũ )

 

Bài này được Nhạc sĩ Lê Dinh có biệt tài phổ nhạc (x. Nghệ Thuật số 72, th 03-2000) với cung ré majeur làm nổi bật một quá khứ êm đẹp, nhẹ nhàng trước khi hai đứa trẻ xa nhau. Nhưng có những chia phôi còn để lại thương tiếc vô cùng, mấy vần thơ sau là một tiếng khóc cho một cuộc tình dang dở :

Thoáng chốc đời phai, mãi buồn canh cánh
Yêu lắm rồi xa, thương tiếc khôn cùng
Mai ta về đâu, nắng táp mưa giông
Mai đôi mắt dần khô chăng, suối lệ? (Ngày Mai Và Đôi Mắt)

 

Trong ‘’ Đã Rồi Một Cánh Chim Bay ’’ , với âm điệu tuyệt vời, đẹp như ánh sáng ban mai, buồn như dòng suối năm xưa, Hà Nguyên Du đã đạt được một địa vị dưới ánh mặt trời sáng rực. Cứ mỗi danh từ là một nghĩa, cứ mỗi điệu vần là một nhịp trong tim, một nhịp của tạo hóa thiên nhiên :

Đã rồi một cánh chim bay
Em đi về với, cuồng quay ánh đèn
Lạc loài ta giống tên điên
Bơ vơ ca hát, ngang nhiên cợt đùa
Đâu rồi suối cũ, trăng xưa ?
Ta thêm chức tước, đâu vừa thiên hương
Nguyệt tà, dương xế, mây buông
Ta, em hát mãi, khúc buồn thiên thu...

Kỷ niệm ! Kỷ niệm ! ngày ‘’ Thứ Ba’’ trong ‘’ Tuần Lưu Hoạt ’’ đáng lẽ theo phần đông là một ngày thích thú nhất...đối với nhà thơ họ Hà trái lại, là ngày đau khổ nhất :

Con chim nào hót sáng nay ?
Miệng ta bỗng huýt sáo dài như chim!
Cơn mơ nào ủ ngăn tim?
Nỗi xưa niềm cũ luân phiên dày vò!
Đã rồi hóa giải nên thơ ?
Cho ta sống thản bên bờ vực đen?

 

Tôi xin dịch ra chữ Pháp như sau (để lột trần hơn nữa tâm hồn của tác giả) :

De quelle espèce d’oiseau ce chant vient- il ce matin ?
Je me mets soudain à siffler comme l’animai, longuement !
Quel genre de rêve a-t-il pu à la fois réchauffer et freiner le rythme de mon coeur
Des sentiments et ressentiment du passé ont à tour de rôle embrouille ùma vie
Je les ai pourtant tous transformés en poésie
Afin que puisse vivre tranquille
Au bord du noir profond de l’abime ?

 

Đáng sợ hơn là những : ... Đêm thổ huyết từ cơn mơ cũ / Gương vỡ soi, người đội lốt người / Nỗi thê thiết tim nào chịu đựng / Nẻo về không biết có suông, tôi? (Ẩn, Hiện Một Đời). Hoặc trái lại, trong ‘’ Những Đêm Hạ Huyền ’’, nhà thơ cũng tiếc nuối, nhưng nhờ thơ, người đã biến hóa nhẹ nhàng :

Hạ huyền ơi hỡi! Nắng thêu ngàn cây / Héo khô cành ta / Em lá rơi đầy / Hạ huyền phiêu lãng / Tóc ai dần phai / Tính tang tình tang / Non nước u hoài / Vọng về đâu nữa? Đám sâu cành khô/ Ái ân ngày xưa / Hóa ra thành thơ. Còn nói gì lúc ‘’ Trái Tim Học Trò ‘’ của nhà thơ ( đầy mơ mộng) mỗi ngày đến trường nữ học, nhìn trộm nàng ra trường, trên đường về nhà cha mẹ : Áo em ngày xưa / Áo trắng thiên nga / Bước anh ngày xưa / Bước đi hào hoa / Tóc em ngày xưa / Tóc chấm ngang vai / Tóc anh ngày xưa / Tóc phong trần bay . Còn biết bao nhiêu vần thơ tuyệt diệu của Hà Nguyên Du về mối tình trong kỷ niệm, vừa đau thương vừa bình dị, dịu dàng như ‘’ Tình Như Cành Lá Thu Phong ’’:

 

Tình như cành lá thu phong
Thôi tàn phai hết mặn nồng ái ân
Anh còn nặng gánh phù vân
Mắt em rơi ướt, xót thân lạc loài
Hay ‘’ Tình Ta Dưới Ánh Mặt Trời ’’ :
Ôi! bàn tay trên cung phím lướt
Tơ ngân vang rung trái tim buồn
Nghe không em, lòng ai chùng xuống
Như trần gian thiếu bóng tình thương!
Như đời hoa vời trông cánh bướm
Như ai ca phách nhịp không cùng
Xe đi không về không với bến
Ta yêu em cho núi thành sông...

 

‘’Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’ cũng là một tán dương ca tình yêu quê hương (Chiều hôm nao đi ngang dòng kinh / Nhớ quê hương tha thiết chân tình / Nhớ ruộng đồng khô ran, thiếu nước / Dẫn thủy nhập điền hư hao nát tanh :Tức Cảnh Sinh Tình), nhớ gia đình quốc nội ( Ta ở bên này xứ sở văn minh / Thương chị giếng sâu, gàu con xách nước / Mẹ lả thân cò, tảo tần xuôi ngược / Ôi! lất lây cho đấp đổi qua ngày : Chải Tóc Đi Em! ), người cha đã mất năm 1986 ( Đột ngột ai ngờ Ba lâm bệnh / Và Ba đi...đi mãi không về / Trời ơi! hiên vắng ai ngồi khóc ? Bão táp mưa sa phận não nề: Dưới Nắng Xế Ba Ngồi Sàng Gạo), và người mẹ yêu dấu còn sống sót quê nhà :

 

... Vẫn nhớ lệ mờ nơi bến cảng, sân ga
Mẹ khóc mướt ôm con và xiết chặt
Em, chị tiễn đưa lòng đau như cắt
Người lẻ loi mãi khăn gói lên đường!!
Vẫn nhớ vô vàn kỷ niệm yêu thương
Qua hưng phế chẳng mờ trong ký ức (Vẫn Nhớ).

 

Thơ Hà Nguyên Du còn rất thấm nhuần triết lý Á Đông. Đã biết đại khái nỗi tâm tình của người qua ‘’ Tôi Đã Luân Hồi Tôi, Qua Em ’’, bây giờ ta hãy lắng nghe ‘’Ta’’:

Đến sẽ đến, đi sẽ đi
Ở, về một kiếp lưu ly đất trời
Trái, hạt từ đâu sinh sôi?
Ta, em, hương, lửa, lũng, đồi bụi bay
Lối nào có một không hai?
U, minh nở đóa phù phai bất thường
Mộng trần em trĩu vai thuôn

Ta, lưng quặn hải hồ, sương khói nhà. Hoặc đầy tư tưởng Phật giáo trong ‘’ Nâng Cốc Sầu Tan’’: Đời kiêu bạt phế tàn lây! Nghe tâm huyết lụn phơi bày nghiệt oan ? Sĩ hề sĩ chẳng hề than ! Sĩ về nâng cốc sầu tan chẳng hề!

Về đời Hà Nguyên Du, tôi đã nói nhiều trong bài ‘’ Lối Khác của Hà Nguyên Du hay là óc não và xương thịt của một thi nhân ’’ (NTsố 66) . Thơ của họ Hà có đăng trên các báo nổi tiếng ở hải ngoại và Nghệ Thuật (do Nhạc sĩ Lê Dinh chủ trương) đã trình bày những thi bản hay nhất trong những số vừa qua. Tôi là người hân hạnh được đọc lai cảo ‘’ Anh Biết, Em Yêu Dấu ’’ tác giả gởi tặng ( 72 bài tất cả!) với sáng kiến tự do của nhà phê bình lấy trách nhiệm viết bài này cho Nghệ Thuật đặc quyền sở hữu đăng ngay trước khi tác phẩm được ra mắt đồng bào : An Tiêm Studio xuất bản, bìa Khánh Trường, phụ bản họa sĩ Lê Thánh Thư, Hạ Quốc Huy...với sự cộng tác về phần phổ nhạc của các Nhạc sĩ : Phạm Duy (Em là vòng nhật nguyệt, Khúc ly tao, Đêm hạ huyền) Trần Duy Đức ( Nhớ người vương khói thuốc bay, Em có về như những cơn mưa, Người yêu dấu ) , Nguyễn Hiền (Cho tôi bài tango, Cho em bài sonnet), Trầm Tử Thiêng : Khi bước tình đi qua (TTT vừa bỏ chúng ta ra đi ngày 25/01/2000 và HND đã viết trong Tựa : ‘’...tôi không nén được lòng, lúc ‘’ cánh cửa đã đóng’’ sau khi đưa thi hài của cố Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng vào lò hỏa thêu. Với tiếng khóc nức nở của nhà báo Lâm Tường Dũ, của nữ ca sĩ Ngọc Minh, và...những dòng lệ tiếc thương của Nhạc sĩ Trúc Hồ, cùng một số văn nghệ sĩ khác...’’), Nguyễn Đức Đạt (Tình ta dưới ánh mặt trời), Phạm Minh Hùng (Tình như cành lá thu phong), và Nhạc sĩ Lê Dinh (Chồng thư cũ).

 

Hà Nguyên Du là một nhà thơ đã được nhiều nhạc sĩ lừng danh phổ nhạc; đó cũng là một chứng minh sự thành công vẻ vang của một thi sĩ đang lên, và có lẽ – trong tương lai người sẽ đạt được ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ Việt Nam

( Cho Em Bài Sonnet) :

Ta cho em bài sonnet chan chứa
Con sông dài uốn khúc quanh co
Sonnet mùa đồng lên xanh lúa
Sonnet mình đẹp như trang thơ
Ta cho em bài sonnet tha thiết
Như trăng rằm hát khúc ca dao
Sonnet đầy tình trao da diết
Sonnet trời ngời ánh trăng sao...

 

LÊ MỘNG NGUYÊN
Nhạc sĩ/ Tiến sĩ/ Gs Sorbonne/
Viện Hàn Lâm KH/ Hội nhà văn Pháp ngữ , ( Paris)
Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001)

 

 

 

 

 

LAST_UPDATED2
 
Design by HND.www.hanguyendu.org

Copyright © 2010.by hanguyendu.org. All Rights Reserved.