Hà Nguyên Du
Cô gái áo vàng

Hỏi (H): Ngày 30.04.75 anh dậy vào lúc mấy giờ? Hà Nguyên Du (HND): Cả đêm trước đó, tôi không ngủ, tâm trạng rất là hoang mang và mệt mỏi, tới ăn cũng không được. Ông cậu tôi có làm nguyên một con vịt, tôi ăn không vô một miếng. H: Lúc đó anh đang ở đâu? HND: Tôi đang ở Bình Thới, nhà của ông cậu tôi, còn gia đình, ông bà già và 7 người em đều ở quê thuộc tỉnh Tây Ninh. Lính được cho đi tìm gia đình thất lạc, đến phiên tôi đi phép, từ Bến Lức về đến Sài Gòn thì bị kẹt lại, mấy ngày trước 2 lần tìm cách mà lần nào cũng vậy. Quốc lộ 1 bị phong toả ở ngang quận Củ Chi, thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, ngang căn cứ Bắc Hà có lính Sư đoàn 25 ào ra, kéo giây kẽm gai không cho xe qua lại. Tôi lại trở về nhà ông cậu với cô bạn gái mới quen. Mấy ngày đó đang có thêm cô bạn, mình đang đi lính, độc thân, thành thử cũng… Mệt lắm, giống như là chuyện trong bài thơ “Phòng số 22” của Lê Thị Thấm Vân. Vậy mà, đêm 29, người em bà con nấu một nồi cháo, kêu tôi ăn một miếng dưỡng sức mà tôi ăn cũng không vô. Lúc đó, thật là… Hoang mang! H: Anh phục vụ ở đơn vị nào vào thời điểm 75? HND: Vào thời điểm 75, tôi là một trong số rất nhiều Sĩ quan di tản được gom lại để tái vũ trang và phối trí vào Sư đoàn 22 Bộ binh, cấp tốc đưa đi giữ gìn trục lộ 4 hầu bảo vệ Sài Gòn trong cơn bị đe doạ trầm trọng, chứ đơn vị trước kia của tôi đâu phải vậy! Sự thật, khi ra trường tôi là Sĩ quan Biệt động quân, mà lại thành Địa phương quân, vì phải đi theo kế hoạch của người bạn thân chung khoá, hứa sẽ giúp cả hai đứa về Bộ tư lệnh ở Sài Gòn nhưng bất ngờ không thành, tôi trở tay không kịp, đành nhắm mắt đưa chân, đổi đơn vị khác khi không còn đơn vị nào tốt để chọn khi ra trường. Tôi đang ở bên Địa phương quân, chính nhà thơ Kim Tuấn giới thiệu tôi với ông Trung tá… Đại tá Tiểu khu trưởng, xếp đặt cho tôi một công việc phù hợp với khả năng hơn. Ông này hỏi tôi văn nghệ thế nào, tôi trình ông thẻ nhà báo, tôi khoe thêm là tôi làm thơ và thường đi ca hát tài tử… Thế là ông đưa tôi vào làm việc ở Phòng CTCT/TLC (Phòng Chiến tranh Chính trị/Tâm lý chiến Tiểu khu Kontum [1] ). Nơi đây họ biết khả năng tôi ngay và liền giao tôi đặc trách báo chí, tôi công tác qua lại với cục TLC để in báo, từ đó tôi quen với thi sĩ Du Tử Lê… H: Vậy lúc di tản đường 7 anh cũng có mặt? HND: Tôi đang công tác ở đơn vị cũ Địa phương quân trước tháng tư, đùng một cái rối ren, động tĩnh như thế, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 triệt thoái cùng nhiều đơn vị khác, tôi chạy tới Cam Ranh rồi ngủ lại một đêm ở nhà dân gần nhà dài chợ Phan Rang. Và rồi đến tỉnh Bình Tuy, bước xuống cảng, lúc ông Đại tá gì đó… to con ưa chửi thề lớn tiếng, ông đứng ngoài cảng ra lệnh phân loại, tôi thành phần độc thân lên tàu HQ 202, quân nhân có gia đình đi cùng lên tàu khác. Vô tới Vũng Tàu chiều ngày 7.4.75, tái phối trí vào Sư đoàn 22 và lưu lại ở Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn 5 ngày [2] . Tôi được làm Trung đội trưởng. Chỉ huy một trung đội thặng dư quân số, có gần bốn mươi người lính đủ loại, gốc từ Hải quân, Không quân cũng có. Tôi có tới 3 Trung sĩ Hải quân và 2 ông Trung đội trưởng Nghĩa quân… Tái vũ trang, đưa tôi vào Bến Lức, rồi đi Đức Hoà, Đức Huệ (12.4.75). Hành quân ngỡ như đụng trận mà không hẳn là đụng trận, bởi đêm đang di chuyển thì nổ cái ầm rồi thôi, tưởng đạp trúng mìn, mà là bị VC bắn B40. Sáng ra truy đuổi VC trên đường ruộng, bắn cả bằng đại liên 30 mãi mà không trúng. Tôi vô lục soát nhà dân cũng không kiếm ra súng đạn gì hết, tới một ngôi chùa, ở trong chùa đầy thanh niên trốn quân dịch, ai nấy mặt mày xanh mét. Tôi không bắt ai, nói tụi tôi đi kiếm VC không phải kiếm trốn lính. Đến 27.4.75, ngày tới phiên tôi đi phép, ra đường kế quận Bến Lức, đón xe vận tải về Sài Gòn, giữa đường gặp cô gái. H: Cô bạn gái… Phòng số 22? HND: Phải, cái cô chuyện như trong bài thơ của Lê thị Thấm Vân [3] . Tôi ngồi kế tài xế thấy cô bé xinh quá, mặc áo vàng, có cái nốt ruồi giống như ca sĩ Phương Hoài Tâm, kêu xe ngừng lại. Cô này con một ông Thượng sĩ Cảnh sát ở Vũng Tàu, đi thăm người yêu là Trung sĩ Sư đoàn 22. Gặp tôi Thiếu uý, tôi rủ đi theo tôi về Sài Gòn chơi, cổ đi theo luôn, tôi dẫn về nhà ông cậu ở Sài Gòn, Bình Thới. H: Anh đi xe đò bữa hôm đó còn mặc quân phục? Đường xá lúc đó chưa lộn xộn an ninh? HND: Tôi mặc quân phục đàng hoàng, đeo lon Thiếu uý, có mang theo cây súng Colt 45 còn mới tinh. Cây súng này có một tiểu sử khá là đặc biệt, do mấy người lính trong Trung đội cho tôi, họ lượm được ở trong trại Qui Nhơn lúc bỏ thành phố [4] . Nhưng tiếc nhất là tôi có một tập thơ tôi làm, chép đầy một cuốn vở 200 trang giấy học trò vào dịp đó bị mất. Mà thơ có mấy ai thuộc nhiều thơ chính mình, tôi chỉ thuộc thơ của người khác, đến giờ tập thơ đó tôi chỉ nhớ có mỗi một bài, còn bao thì lơ mơ… H: Anh mất tập thơ ở Qui Nhơn? HND: Bỏ trong ba lô, đi đâu tôi cũng ôm theo, lúc chạy lại không mất. Về tới Vũng Tàu bữa đi ra chợ mua đồ trang bị cho cuộc hành quân, tôi bỏ ba lô ở trong trại, nhưng ôi ai đó ẵm nguyên cái ba lô. Tôi có nhắn mấy thằng lính giữ mà đứa nào ăn cắp không hay, tiếc thật! H: Rồi anh mất tập thơ, nhưng có cây súng ngắn, lại được cô bạn gái. HND: Cô này theo tôi về nhà ông cậu, tôi dắt đi Sài Gòn chơi. Cũng tại vì cô này mà tôi không đi được năm 75. Lúc ra chợ Bến Thành sáng 30, cô nói anh mua cho em mấy cái son phấn trong chợ. Thành thử ra đi ngang chỗ trọ học lúc trước, có thằng bạn ở gần nhà mà tôi không vào. Tay này lính kiểng Biệt khu Thủ đô, có quen mấy bạn Hải quân ở bến tàu, nó nói nó chờ tôi đến chiều 30 mới lên tàu sang Mỹ. Bạn này học ra kỹ sư, giờ làm Giám đốc tới mấy hãng điện tử. Năm 90 tôi đi đợt đầu H.O.5, lúc mới chuyển từ San Antonio, bang Texas sang Cali, tôi ở nhà nó mấy tháng trước khi dọn xuống dưới này. Hồi đó nó mới mua căn nhà, sang trọng, phía trên đồi quận Cam đây này… Phải tôi tạt qua ngày hôm đó là hai đứa đã đi cùng. Tại cái cô áo vàng, với lại bữa đó trời mưa lớt phớt, tôi đã tới đầu hẻm, đứng nhìn thấy cái nhà mà không ghé vô. H: Nghĩa là ngày 30, cô này còn ở với anh? HND: Cô còn ở với tôi đến sáng mùng một, tôi đưa cô ra bến xe đò, còn tôi cũng lên xe đò về quê Tây Ninh. Đường hôm đó đông nghẹt, kẹt cứng hai chiều. Tôi ngồi trên nóc xe, đầu đội cái nón rằn ri, cái nón bo đi rừng này là món sau cùng mà tôi tiếc rẻ, người ta nói quăng luôn đi, coi chừng Việt cộng bắn ẩu, tôi nghĩ cái nón như lao động đội thôi, có hề gì, người ta nói Việt cộng bắt, kêu là ngoan cố, tôi phải quăng luôn. H: Anh bận thường phục? HND: Đêm 30 là thường phục rồi, bộ đồ lính tôi quăng trên mái nhà của ông cậu. H: Còn cây súng cũng liệng nốt? HND: Đâu có! Vậy mới đặc biệt. Lúc đó thì súng bỏ đầy đường rồi, nhưng 2, 3 bữa trước, mấy lần về Tây Ninh mà không được, thừa lúc cạn tiền, tôi ghé vô một thằng bạn con nhà giàu làm việc ở xã Tân Phú Thượng, Củ Chi, định hỏi mượn tiền nó thì gặp một sòng bài mà nó đang thua, nó xúi tôi và gạ gẫm bán cây súng mới của tôi 3.000 đồng! Vì lúc đi phép, lương lãnh được có nửa tháng [5] , lại có cô bạn thì phải ăn xài, đâu còn đồng nào. Cây súng này, lúc đi chơi, lận vào hông thì nặng, tôi đưa cho cô kia giữ, bỏ trong cái túi xách Pan Am nhưng tôi gỡ băng đạn ra vì cũng phải cảnh giác. “Ngoài ta là địch”, biết đâu cô đó là “địch” thì sao? Tối ngủ ở nhà ông cậu, cái băng đạn vô nghĩa còn lại, không hiểu sao tôi nhét nó trong cột gạch ba-banh, thứ có mấy cái lỗ hổng ở phía trong. Nhưng, nghĩ cũng hiếm, lạ, cây súng thừa người ta cho, lại bán được ngay trước đó có mấy ngày để đắp vào khoảng thiếu tiền, thật là ăn khớp. Đó là may, kẻo không thì tiền đâu mà đi chơi với đào? Vả lại sau này rồi cũng quăng như người ta!!! H: Hôm 30 chưa rời Sài Gòn anh có thấy bộ đội vào thành phố không? HND: Không! Vì như kể trên, sáng 30 tôi còn đi chơi với cô bạn gái một chút rồi về lại nhà ông cậu. Sự thật hình như từ giữa trưa đến chiều bộ đội mới tràn vào thành phố. Những thời điểm đó thì từ dân đến quân ai mà chẳng lo sợ, hoang mang? Tôi nằm nhà ông cậu thì nào thấy ai, chỉ dám nhú ra đầu hẻm thì thấy tụi đeo băng đỏ lấy xe jeep của mình, đeo M16 lượm được lái khắp nơi, ra tùm lum đủ thứ lịnh lạc. Tôi đã tính ra trình diện ở Bình Thới nhưng nghĩ đang lộn xộn, nên để ý định ấy về quê… H: Dọc đường có bộ đội, chốt nút gì không? HND: Sáng mùng một, trên đường về quê trình diện, tôi không thấy gì cả, chỉ thấy rải rác xác người nằm cong queo trên lề đường, quần áo, quân trang, quân dụng của quân đội nằm khắp nơi. Trên đường đầy xe dân sự kẹt cứng hai chiều, người vô kẻ ra. Về tới quê tôi mới thấy có xe tăng ở quanh vòng đai. Ông bà già tôi lúc đó mắt đầm đìa vì còn đợi có mình tôi. 7 người em ai cũng ngóng nhốn nháo trước cửa nhà…
Hà Nguyên Du nguyên quán Tây Ninh. Sang Hoa kỳ H.O.5 năm 1990. Đã xuất bản: Trong Mùa Lá Xanh (1970) in chung, Lối Khác (1998), Anh Biết, Em Yêu Dấu (2001), Gene Đại Dương (2003). Sẽ in : 25 bài ca Tân Cổ Nhạc giao duyên (tên khác: Trường Khanh). © 2004 talawas
[1]Thời chiến tranh, tổ chức hành chánh của miền Nam đặt dưới quyền của quân đội. Mỗi tỉnh cũng là một tiểu khu, tỉnh trưởng là một Trung ta’ hay Đại tá kiêm Tiểu khu trưởng. Các đơn vị Địa phương quân là lực lượng của Tiểu khu nên việc thuyên chuyển rất dễ thực hiện, ở đây là nội bộ, từ đơn vị tác chiến về pho`ng tham mưu cũng của Tiểu khu. [2]Sư đoàn 22 “Trấn biên bình hải” là lực lượng chủ lực thuộc Quân khu 2 nhưng vào thời điểm này không còn nguyên vẹn nên được tái phối trí bằng đủ thứ lính vơ vét. [3]Tạp chí Thơ số 17, mùa đông 1999, trang 142. [4]Colt 45 là súng ngắn trang bị cho Sĩ quan chỉ huy hay lính mang máy truyền tin. Loại này rất thông dụng trong quân đội VNCH. [5]Lương Thiếu uý là 28.000 cho độc thân, cộng thêm các thứ phụ cấp như tiền cho đơn vị nơi rừng núi, sình lầy v.v
Cô gái áo vàng - Link
NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ HÀ NGUYÊN DU
Nguyễn Mạnh Trinh
NGUYỄN MẠNH TRINH:
1/ Anh vừa xuất bản một tập thơ mới. Vậy xin anh cho biết một
vài chi tiết về tác phẩm này?
HÀ NGUYÊN DU: Trước khi mang tập thơ đi in, tôi cần đưa vào thêm ba bài thơ phổ nhạc được kẻ, nhưng kết quả giờ chót chỉ được một. Tuy nhiên tôi vẫn hài lòng về sự phổ và kẻ nhạc rất đẹp của nhạc sĩ Trần - Duy Đức, về phần vẽ bìa của Họa sĩ Khánh Trường, về phần trình bày của Đoàn Duy Hiệp... Nhất là tôi đắc ý hơn với bài viết tựa của thi sĩ Du Tử Lê về trình tự chính xác như diễn tiến cuộc đời làm thơ của tôi.
NMT: 2/ Hình như, anh đã có ý định từ rất lâu là in một tập thơ. Vậy tại sao bây giờ anh mới hoàn tất được?
HND: Vì những bất ổn đời sống đến dồn dập, làm tập thơ của tôi mất gần ba năm mới xong, nhưng với tâm quyết là phải in ra những gì tôi viết, nếu không, sẽ bị mất hết như hơn ba mươi năm qua.
NMT: 3/ Tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã có một phần phụ lục với những bài thơ của anh. Như vậy, tập thơ này và phần phụ lục ấy có liên quan gì với nhau?
HND: Tập thơ "Lối khác" và phần phụ lục ấy chỉ là một, vì đó là những bài thơ được trích ra, nhưng nó không có nghĩa là để tượng trưng cho một tác giả...
NMT: 4/ Hồi trước, anh là ký giả và làm thơ viết văn. Bây giờ, công việc cầm bút là công việc tay trái, còn tay phải thì bận bịu vì sinh kế. Điều ấy, có phải là một điều hạn chế sự sáng tác của anh? Hay, ngược lại, nó làm anh hăng hái hơn khi sáng tác?
HND: Cảm ơn anh đặt những câu hỏi rất hay và lý thú như trên. Ai cũng cho rằng đất Mỹ là đất của cơ hội, đất của qũy đạo quay tít đến chóng mặt. Vì thế, người di dân với người bản xứ đều bị chi phối. Sinh kế đã làm hầu hết chúng ta rất bận bịu, nhất là tôi, thường lúc như không thấy mặt trời. Lại còn phải chăm lo hai đứa con còn quá nhỏ, nên hạn chế rất nhiều trong việc sáng tác. Nhưng, chính vì thế, tôi lại càng "hăng hái" hơn, vì thơ với tôi như một hiện hữu như bóng với hình, như nhịp đập của trái tim
NMT: 5/ Anh nghĩ thế nào về thơ "mới". Có phải "mới lạ" là một yếu tố thiết yếu cho một bài thơ "hay"?.
HND: Người ta đã nói quá nhiều về đề tài này rồi, tuy nhiên theo tôi nghĩ, nếu gọi thơ "mới" dĩ nhiên còn có thơ "cũ". Mà, dù mới hay cũ, miễn sao cho ra "Thơ". Nhưng, chúng ta thấy rằng thơ mới, có triển vọng sẽ thích ứng với những thế hệ chuyển tiếp và với con người trên đà tiến bộ chung trong mọi lãnh vực của nhân loại. Từ đó, "khẩu vị" văn chương nếu có món "mới" thì tốt, nhưng mới mà " ngon " thì đáng ca ngợi hơn... Về sự "mới lạ" có phải là một yếu tố cho một bài thơ "hay"? Những câu hỏi này nếu trả lời không khéo sẽ gây ngộ nhận, nhưng theo tôi, "mới, lạ, và hay" đúng là các yếu tố thiết yếu cho một bài thơ "hay". Nhưng khi nói đến một bài thơ "hay" không chỉ có mới, lạ, mà bao gồm cả một bài thơ hay của thơ "cũ" với những yếu tố "hay" khác, thơ "cũ" vẫn tiếp tục tồn tại...
NMT: 6/ Nhưng, anh có nghĩ cần phải phân biệt giữa "mới lạ" thật và "giả" ( như làm dáng, tạo cầu kỳ đến kỳ quặc là "mới lạ" giả chẳng hạn )
HND: Nghệ thuật nào cũng đòi hỏi phải xuất phát từ nguồn gốc căn bản của chủ thể, đó là cái "tâm" hay từ trái tim cảm xúc của người sáng tạo ra tác phẩm, dù với mọi nổ lực khám phá hay tìm kiếm nào, cũng không thể rời xa tính tất yếu đó. Nó giống như những chiếc chìa khóa để mở kho tàng mỹ thuật của các nghệ nhân; đi ngược lại với những đặc tính then chốt như nêu trên, sự phân biệt "mới lạ" giả, tự nhiên trở thành một vấn đề cần có...
NMT: 7/ Chắc anh làm nhiều bài thơ hơn là "Lối khác". Anh lựa chọn thế nào để thành tuyển tập thơ của mình?
HND: Tôi làm rất nhiều thơ, in xong tập Lối khác, sang năm mới này, việc kế tiếp là lo in tập thơ "Anh Biết, Em Yêu Dấu" như tôi đã giới thiệu từ trước. Việc lựa chọn để thành một tuyển tập như anh hỏi, cách của tôi là lấy những bài thơ đăng báo rồi, những bài được phổ nhạc...Còn lại là những bài ít nhất cũng có một câu "hay" mà mình ưa thích hoặc theo yêu cầu của một số người đọc..vv..
NMT: 8/ Hỏi một cách thành thật, anh có chịu ảnh hưởng của một thi sĩ nào khác không? Việt Nam hoặc ngoại quốc? Ở trong nước hay ở hải ngoại?
HND: Điều chắc chắn, là không một ai mà không ảnh hưởng, nếu ảnh hưởng "cái hay" thì chẳng có chi đáng nói. Nhưng, sự ảnh hưởng ít ra "để phải" có cái riêng cho mình chứ?! Mà, để có cái "riêng" là điều không dễ. Vấn đề tôi ảnh hưởng, thật sự chính tôi không biết. Vì, một khi đã gọi rằng chúng ta có đời sống văn hóa, thì chất "văn" của mọi người cũng như của tôi, nó đã "hóa" từ rất lâu rồi. Với tính "hóa" ấy, trở thành của chung cho mỗi cá nhân trong đời sống. Thế nhưng, việc phân tích sự ảnh hưởng của các tác giả, là điều người ta đã làm từ lâu rồi, và hiện nay, cũng nên tiếp tục làm. Riêng tôi, phần này nhường lại cho người đọc đánh giá.
NMT: 9/ Anh lựa chọn sẳn một thể tác nào cho thơ của mình trước khi sáng tác? Hoặc, thả tự do theo cảm hứng của mình?
HND: Tôi luôn thả tự do theo cảm hứng. Nhưng đôi khi cũng lạc qua thể tác mình ưa thích.
NMT: 10/ Trong các yếu tố: hình ảnh, cấu trúc, ngôn ngữ, ý tưởng, anh nghĩ rằng yếu tố nào quan trọng nhất?
HND: Quan trọng nhất vẫn chỉ là ngôn ngữ. Bởi ngôn ngữ như một chuyến xe chở đầy những hành khách, trong đó hành khách hình ảnh hay hành khách ý tưởng luôn tác hợp trên cùng một chuyến xe ấy. Về phần cấu trúc, chẳng khác chi những bánh xe lăn trên các lộ trình do "tay lái ngôn ngữ" điều khiển.
NMT: 11/ Làm thơ, anh có nhắn gởi đến một ai không? Cho người tình, cho bạn bè, cho người thân thuộc...?
HND: Làm thơ hay viết văn, là những việc làm văn hóa, cũng là người bạn đồng hành với những công tác truyền thông. Thế nên, với tôi mỗi bài thơ hầu như là những thông điệp mang chuỗi tín hiệu thông tin đến cho những mối liên hệ cần thiết.
NMT: 12/ Có lẽ, anh đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống và phải chịu nhiều ảnh hưởng của thời thế. Nhưng, hình như thơ của anh ít đề cập đến... không hiểu, điều ấy có chính xác không? với toàn thể những bài thơ anh làm?
HND: Thơ trước kia của tôi, đã "đề cập nhiều" đến thời thế, nhưng hiện nay thì khác... Dù có cách tân hay làm mới cho thơ, tôi vẫn không chịu làm theo kiểu hơi "nói trắng" ra, như theo thơ hậu cận đại của các nước. Sức mạnh của "ẩn dụ" như một nội lực mà tôi thường dùng, một phần cũng giống như "chiều sâu" của thơ Khế Iêm, của Du Tử Lê..., nhưng lại khác với sự bí hiểm và khó giải của Lê Đạt... Vì vậy, Nếu cho rằng tôi ít đề cập đến thời thế là một điều không hẳn. Bởi, ngồi trên chiếc thuyền thời thế gặp cơn bão dập mà không điên đảo, kinh hoàng, hay không chóng chọi để sống còn, đó là một điều không thể chấp nhận được. Nói chi, với tôi lại cũng là một sĩ quan QLVNCH, với 7 năm tù cải tạo, ảnh hưởng này trong thơ, văn, chắc chắn phải có nhưng với một cung cách khác...
NMT: 13/ Thơ, theo anh là những điều bất khả tư nghị hay có thể giải thích được? Với "Lối khác" anh có mục đích giãi bày cuộc đời và tâm tư anh không?
HND: Thơ, có thể bàn bạc hay giải thích được - trừ một bài thơ "hay" dù sự hay ấy bị hạn chế tùy thuộc vào khả năng người thưởng ngoạn, hoặc giả không cùng một tần số cảm thụ. Với đứa con tinh thần của tôi được sinh ra, là một "lối thoát", giải tỏa sự bức xúc của đời sống. Nếu không, tôi sẽ dễ đi về... "cõi của Nguyễn tất Nhiên".
NMT: 14/ Thơ của anh có nhiều hình ảnh lạ, do đó người đọc khó có thể hiểu và cảm nhận một cách chu đáo. Đó có phải là dụng công của anh, để tạo một hình thức và nội dung thi ca khác với người thường?
HND: Thơ phun ra từ những dòng cảm xúc mạnh, dù sự tiết chế hay nén lọc nào, tôi vẫn không cho thơ đi lệch tính thơ. Nghĩa là thơ không chỉ có xác mà không hồn. Và... hồn thơ chính là nhịp đập của trái tim. Nên dù người đọc khó hiểu hay khó cảm nhận chu đáo, đó là việc tế nhị cần thiết của họ. Riêng tôi, luôn vẫn là việc... "tu" để cho thơ tôi mỗi ngày một "nên thơ".
NMT: 15/ Trường hợp nào anh làm thơ? Vui, Buồn, Chán nản, Hy vọng?..
HND: Tôi chỉ có thể làm thơ trong lúc buồn, chán nản hay trầm cảm. Có khi với một tia hy vọng nào đó thơ cũng có thể đến, nhưng trường hợp này rất hiếm...
NMT: 16/ Về thơ phổ nhạc, anh có nghĩ đó là một phương tiện tháp cánh cho thi ca từ âm nhạc? Hay, thơ và nhạc là hai phương diện khác nhau và ít có liên quan với nhau?
HND: Thơ, tự nó có đủ chân đi và đủ cánh bay, nhưng nếu thơ được gắn thêm cho đôi hia hay tháp cho thơ dài thêm đôi cánh, dĩ nhiên những phương tiện này giúp cho thi ca có sức lướt gió nhanh hơn gấp nhiều lần, để đi vào lòng người một cách có hiệu quả. Việc mất thi tính, là điều không thể tránh khỏi, vì được bên này thì mất bên nọ. Nhưng, đã gọi là thi ca, thì khi "thi" làm ra mà được "ca" đó là việc đúng nghĩa. Phần nói về thơ và nhạc là hai phương diện khác nhau, điều này không sai, nhưng về việc ít liên quan với nhau là một điều không đúng hẳn.
NMT: 17/ Có lúc, anh xử dụng nhưong ngôn từ rất đời thường, bình dị?. Theo anh, đó có phải là dụng công để mang thi ca vào lòng người thưởng ngoạn?
HND: Thưa anh, đúng như vậỵ Vì giới thưởng ngoạn thuộc về số đông, sự thay đổi một ít để thích nghi là điều nên làm...
NMT: 18/ Hoàn tất tập thơ này, anh có vui không? Và, dự tính nào tiếp theo?
HND: Xong tập thơ này, tôi rất đổi vui. Dự tính tiếp theo cũng là lo in thơ. Tập "Anh Biết, Em Yêu Dấu" đang chuẩn bị layout, hy vọng sẽ hoàn tất trước cuối năm 1999.
NMT: 19/ Anh có tin tưởng nào về thi ca Việc Nam ở hải ngoại bây giờ?
HND: Dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại như đang chảy xiết, riêng lãnh vực thi ca đã không kém phần sôi nổi. Tôi tin rằng, những công trình đóng góp của người làm văn nghệ ở ngoài nước, là những dấu son đận nét chói rạng...
NMT: 20/ Có lúc nào anh thích làm thơ? Và lúc nào anh chán nản nó?
HND: Thơ xuất, nhập bất thần. Nguồn cảm hứng có thể tuôn ra bất cứ lúc nào. Nhưng, lúc làm thơ thích nhất, ở Mỹ chỉ có lúc tịnh lắng vào ban đêm. Việc chán nản làm thơ, nơi tôi, trải qua muôn vàn thử thách vẫn không bao giờ có cảm giác đó.
NMT: 21/ Một ngày của nhà thơ Hà Nguyên Du?
HND: Việc làm, từ đầu tuần chí cuối tuần, cứ sáng sớm ra đi đến tối về. Mọi bận bịu thường dồn vào hai ngày nghỉ, nên thứ bảy hoặc chủ nhật chưa chắc được thoải mái. Nhưng, tôi vẫn thích dành riêng vài chục phút để ngồi bên ly cà phê ở quán, với anh em văn nghệ.
NMT: 22/ Anh có điều giãi bày thêm với độc giả yêu thơ?
HND: Bao giờ tôi cũng trân trọng và quí mến độc giả yêu thơ. Tôi vẫn luôn lắng nghe sự góp ý của người đọc với một lòng chân thật ./.
NGUYỄN MẠNH TRINH Thi Tập Lối Khác (1998)
|